Tập II – Chương IV – Tương Ưng Vô Thỉ – Connected Discourses on Without Discoverable Beginning – Song ngữ

Anh ngữ: Bhikkhu Bodhi.

Việt ngữ: Hòa thượng Thích Minh Châu.

Compile: Lotus group

 

  1. The 1st Subchaper – Phẩm Thứ Nhất (10 lessons).
  2. The 2bd Subchaper (Unfortunate) – Phẩm Thứ Hai (10 lessons).

 

I. The 1st Subchaper – Phẩm Thứ Nhất

 

1 (1) Grass and Wood – Cỏ Và Củi

 

1) Thus have I heard.

On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthı̄ in Jeta’s Grove,

Anāthapiṇḍika’s Park.

2) There the Blessed One addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus!” “Venerable sir!” those bhikkhus replied.

3) The Blessed One said this:

— “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

4) Suppose, bhikkhus, a man would cut up whatever grass, sticks, branches, and foliage there are in this Jambudı̄pa and collect them together into a single heap. Having done so, he would put them down, saying [for each one]: ‘This is my mother, this my mother’s mother.’ The sequence of that man’s mothers and grandmothers would not come to an end, yet the grass, wood, branches, and foliage in this Jambudı̄pa would be used up and exhausted.

5) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

6) For such a long time, bhikkhus, you have experienced suffering, anguish, and disaster, and swelled the cemetery.

7) It is enough to experience revulsion towards all formations, enough to become dispassionate towards them, enough to be liberated from them.”

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2) Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. — “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn.

3) Thế Tôn nói như sau:

— Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

4) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: “Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi”. Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

5) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

6) Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.

7) Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.

 

2 (2) The Earth – Quả Ðất

 

  • … At Sāvatthı̄.

2) — “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

3) Suppose, bhikkhus, a man would reduce this great earth to balls of clay the size of jujube kernels and put them down, saying [for each one]: ‘This is my father, this my father’s father.’ The sequence of that man’s fathers and grandfathers would not come to an end, yet this great earth would be used up and exhausted.

4) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

5) For such a long time, bhikkhus, you have experienced suffering, anguish, and disaster, and swelled the cemetery.

6) It is enough to experience revulsion towards all formations, enough to become dispassionate towards them, enough to be liberated from them.”

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) — Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

3) Ví như, này các Tỷ-kheo, có người từ quả đất lớn này làm thành những cục đất tròn, lớn bằng hạt táo, cầm từng cục đất đặt xuống và nói: “Ðây là cha tôi, đây là cha của cha tôi”. Và không thể cùng tận, này các Tỷ-kheo, là các người cha, cha của người ấy. Nhưng quả đất lớn này đi đến đoạn tận, đoạn diệt.

4) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

5) Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày càng lớn lên.

6) Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.

 

3 (3) Tears – Nước Mắt

 

  • … At Sāvatthı̄.

2) — “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

3) What do you think, bhikkhus, which is more: the stream of tears that you have shed as you roamed and wandered on through this long course, weeping and wailing because of being united with the disagreeable and separated from the agreeable—this or the water in the four great oceans?”

4) “As we understand the Dhamma taught by the Blessed One, venerable sir, the stream of tears that we have shed as we roamed and wandered through this long course, weeping and wailing because of being united with the disagreeable and separated from the agreeable—this alone is more than the water in the four great oceans.”

5) “Good, good, bhikkhus! It is good that you understand the Dhamma taught by me in such a way. The stream of tears that you have shed as you roamed and wandered through this long course, weeping and wailing because of being united with the disagreeable and separated from the agreeable—this alone is more than the water in the four great oceans.

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) — Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?

4) — Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng, cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.

5) — Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!

 

6-12) For a long time, bhikkhus, you have experienced the death of a mother; as you have experienced this, weeping and wailing because of being united with the disagreeable and separated from the agreeable, the stream of tears that you have shed is more than the water in the four great oceans.

“For a long time, bhikkhus, you have experienced the death of a father … the death of a brother … the death of a sister … the death of a son … the death of a daughter … the loss of relatives … the loss of wealth … loss through illness; as you have experienced this, weeping and wailing because of being united with the disagreeable and separated from the agreeable, the stream of tears that you have shed is more than the water in the four great oceans.

6) Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.

7) Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.

8) … các Ông chịu đựng con chết. ..

9) … các Ông chịu đựng con gái chết…

10) … các Ông chịu đựng tai họa về bà con…

11) … các Ông chịu đựng tai họa về tiền của…

12) Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cái này là nhiều hơn, là dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì mình không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải chịu đựng tai họa của bệnh tật chớ không phải nước trong bốn biển.

 

13) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning….

14) It is enough to experience revulsion towards all formations, enough to become dispassionate towards them, enough to be liberated from them.”

13) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… bị tham ái trói buộc.

14) Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.

 

  • (4) Mother’s Milk – Sữa

 

  • … At Sāvatthı̄.

2) — “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

3) What do you think, bhikkhus, which is more: the mother’s milk that you have drunk as you roamed and wandered on through this long course—this or the water in the four great oceans?”

4) “As we understand the Dhamma taught by the Blessed One, venerable sir, the mother’s milk that we have drunk as we roamed and wandered on through this long course—this alone is more than the water in the four great oceans.”

5-6) — “Good, good, bhikkhus! It is good that you understand the Dhamma taught by me in such a way. The mother’s milk that you have drunk as you roamed and wandered through this long course—this alone is more than the water in the four great oceans.

7) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) — Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

3) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?

4) — Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!

5) — Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!

6) Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.

7) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.

 

4 (5) The Mountain – Núi

 

  • … At Sāvatthı̄.

2-3) Then a certain bhikkhu approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:

— “Venerable sir, how long is an aeon?”

4) “An aeon is long, bhikkhu. It is not easy to count it and say it is so many years, or so many hundreds of years, or so many thousands of years, or so many hundreds of thousands of years.”

5) — “Then is it possible to give a simile, venerable sir?”

6) — “It is possible, bhikkhu,” the Blessed One said. “Suppose, bhikkhu, there was a great stone mountain a yojana long, a yojana wide, and a yojana high, without holes or crevices, one solid mass of rock. At the end of every hundred years a man would stroke it once with a piece of Kāsian cloth. That great stone mountain might by this effort be worn away and eliminated but the aeon would still not have come to an end.

7) So long is an aeon, bhikkhu.  And of aeons of such length, we have wandered through so many aeons, so many hundreds of aeons, so many thousands of aeons, so many hundreds of thousands of aeons.

8) For what reason? Because, bhikkhu, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

— Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?

4) — Thật dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm hay một vài trăm ngàn năm.

5) — Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?

6) — Có thể được, này Tỷ-kheo. Thế Tôn nói như vậy. Ví như, này Tỷ-kheo, có một hòn núi đá lớn, một do tuần bề dài, một do tuần bề rộng, một do tuần bề cao, không có khe hở, không có lỗ hổng, một tảng đá thuần đặc. Rồi một người đến, cứ sau một trăm năm lại lau hòn đá ấy một lần với tấm vải kàsi. Này Tỷ-kheo, hòn núi đá lớn ấy được làm như vậy có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.

7) Như vậy dài, này các Tỷ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, này Tỷ-kheo, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua.

8) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này… vừa đủ để giải thoát.

 

6 (6) The Mustard Seed – Hột Cải

 

  • … At Sāvatthı̄.

2) — Then a certain bhikkhu approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:

3) — “Venerable sir, how long is an aeon?”

4) “An aeon is long, bhikkhu. It is not easy to count it and say it is so many years, or so many hundreds of years, or so many thousands of years, or so many hundreds of thousands of years.”

5) “Then is it possible to give a simile, venerable sir?”

6) — “It is possible, bhikkhu,” the Blessed One said. “Suppose, bhikkhu, there was a city with iron walls a yojana long, a yojana wide, and a yojana high, filled with mustard seeds as dense as a topknot. At the end of every hundred years a man would remove one mustard seed from there. The great heap of mustard seeds might by this effort be depleted and eliminated but the aeon would still not have come to an end.

7) So long is an aeon, bhikkhu. And of aeons of such length, we have wandered through so many aeons, so many hundreds of aeons, so many thousands of aeons, so many hundreds of thousands of aeons.

8) For what reason? Because, bhikkhu, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

— Một kiếp, bạch Thế Tôn, dài như thế nào?

4) — Thật dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Thật không dễ gì để có thể đếm là một vài năm, một vài trăm năm, một vài ngàn năm, hay một vài trăm ngàn năm.

5) — Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?

6) — Có thể được, này Tỷ-kheo. Ví như, này Tỷ-kheo, có một thành bằng sắt, dài một do tuần, rộng một do tuần, cao một do tuần, chứa đầy hột cải cao như chóp khăn đầu. Một người từ nơi chỗ ấy, sau mỗi trăm năm lấy ra một hột cải. Này Tỷ-kheo, đống hột cải ấy được làm như vậy, có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt mau hơn là một kiếp.

7) Như vậy dài, này Tỷ-kheo, là một kiếp. Với những kiếp dài như vậy, hơn một kiếp đã qua, hơn một trăm kiếp đã qua, hơn một ngàn kiếp đã qua, hơn một trăm ngàn kiếp đã qua.

8) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này Tỷ-kheo… vừa đủ để giải thoát.

 

7 (7) Disciples – Các Ðệ Tử

 

  • … At Sāvatthı̄.

2) Then a number of bhikkhus approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said to him:

3) — “Venerable sir, how many aeons have elapsed and gone by?”

4) — “Bhikkhus, many aeons have elapsed and gone by. It is not easy to count them and say they are so many aeons, or so many hundreds of aeons, or so many thousands of aeons, or so many hundreds of thousands of aeons.”

5) “But is it possible to give a simile, venerable sir?”

6) “It is possible, bhikkhus,” the Blessed One said. “Suppose, bhikkhus, there were four disciples here each with a life span of a hundred years, living a hundred years, and each day they were each to recollect a hundred thousand aeons. There would still be aeons not yet recollected by them when those four disciples each with a life span of a hundred years, living a hundred years, would pass away at the end of a hundred years.

7) It is not easy to count them and say that they are so many aeons, or so many hundreds of aeons, or so many thousands of aeons, or so many hundreds of thousands of aeons.

8) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn…

3) Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

— Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn, đã đi qua, đã vượt qua?

4) — Rất nhiều, này các Tỷ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.

5) — Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có thể cho một ví dụ được không?

6) — Có thể được, này các Tỷ-kheo. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có bốn vị đệ tử, tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm. Cứ mỗi ngày họ nhớ đến trăm ngàn kiếp, này các Tỷ-kheo, các kiếp được họ nhớ đến là vậy. Bốn đệ tử ấy tuổi thọ một trăm tuổi, sống đến một trăm năm, sau một trăm năm đi đến mệnh chung.

7) Nhiều như vậy, này các Tỷ-kheo, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.

8) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát.

 

8 (8) The River Ganges – Sông Hằng

 

1) On one occasion the Blessed One was dwelling at Rājagaha in the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary.

2) Then a certain brahmin approached the Blessed One and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him:

3) — “Master Gotama, how many aeons have elapsed and gone by?”

4) — “Brahmin, many aeons have elapsed and gone by. It is not easy to count them and say they are so many aeons, or so many hundreds of aeons, or so many thousands of aeons, or so many hundreds of thousands of aeons.”

5) — “But is it possible to give a simile, Master Gotama?”

6) — “It is possible, brahmin,” the Blessed One said. “Suppose, brahmin, the grains of sand between the point where the river Ganges originates and the point where it enters the great ocean: it is not easy to count these and say there are so many grains of sand, or so many hundreds of grains, or so many thousands of grains, or so many hundreds of thousands of grains.

7) Brahmin, the aeons that have elapsed and gone by are even more numerous than that. It is not easy to count them and say that they are so many aeons, or so many hundreds of aeons, or so many thousands of aeons, or so many hundreds of thousands of aeons.

8-9) For what reason? Because, brahmin, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

10) When this was said, that brahmin said to the Blessed

One:

— “Magnificent, Master Gotama! Magnificent, Master Gotama!… From today let Master Gotama remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”

1) … Trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm).

2) Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn…

3) Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

— Có bao nhiêu kiếp, bạch Thế Tôn đã đi qua, đã vượt qua?

4) — Rất nhiều, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì để có thể đếm chúng được, là một vài kiếp, một vài trăm kiếp, một vài ngàn kiếp, một vài trăm ngàn kiếp.

5) — Tôn giả Gotama có thể cho một ví dụ được không?

6) — Có thể được, này Bà-la-môn. Ví như, này Bà-la-môn, sông Hằng này từ chỗ nguồn bắt đầu đến chỗ nó chảy nhập vào biển. Số cát nằm ở giữa chặng ấy, thật không dễ gì để có thể đếm chúng được là một số hột cát, là số trăm hột cát, là số ngàn hột cát, là số trăm ngàn hột cát.

7) Nhiều hơn vậy, này Bà-la-môn, là những kiếp đã đi qua, đã vượt qua. Thật không dễ gì có thể đếm chúng được, là một số kiếp, một trăm kiếp, là một ngàn kiếp, là một số trăm ngàn kiếp.

8) Ví sao? Vô thỉ là luân hồi này, này Bà-la-môn, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

9) Cũng vậy, đã lâu ngày, này Bà-la-môn, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên. Cho đến như vậy, này Bà-la-môn, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

10) Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

— Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!… Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!

 

  • (9) The Stick – Cây Gậy

 

  • … At Sāvatthı̄.

2) — “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

3) Just as a stick thrown up into the air falls now on its bottom, now on its side, and now on its top. So too as beings roam and wander on hindered by ignorance and fettered by craving, now they go from this world to the other world, now they come from the other world to this world.

4) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) — Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

3) Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây gậy được ném lên trên hư không, khi thì rơi trên đầu gốc, khi thì rơi chặng giữa, khi thì rơi đầu ngọn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc, lưu chuyển luân hồi, khi thì từ thế giới này đi thế giới khác, khi thì từ thế giới khác đến thế giới này.

4) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát.

 

  • (10) Person

 

1) On one occasion the Blessed One was dwelling at Rājagaha on Mount Vulture   Peak.

2) There the Blessed One addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus!”  

“Venerable sir!” those bhikkhus replied.

3) The Blessed One said this:

— “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

4) One person, roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving, would leave behind a stack of bones, a heap of bones, a pile of bones as large as this Mount Vepulla, if there were someone to collect them and what is collected would not perish.

5) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

6) This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:

 

“The heap of bones one person leaves behind

With the passing of a single aeon

Would form a heap as high as a mountain:

So said the Great Sage.

This is declared to be as massive

As the tall Vepulla Mountain

Standing north of Vulture Peak In the Magadhan mountain range.

 

“But when one sees with correct wisdom

The truths of the noble ones—

Suffering and its origin,

The overcoming of suffering,

And the Noble Eightfold Path

That leads to suffering’s appeasement—

Then that person, having wandered on

For seven more times at most, [186]

Makes an end to suffering

By destroying all the fetters.”

1) … Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakuuta (Linh Thứu).

2) Tại đấy Thế Tôn…

3) — Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…

4) Các xương của một người, này các Tỷ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.

5) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

6) Thế Tôn nói vậy, Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Chồng chất như xương người,
Chỉ sống có một kiếp,
Chất đống bằng hòn núi,
Bậc Ðạo Sư nói vậy.

Ðống xương ấy được nói,
Lớn như Vepulla,
Phía Bắc núi Linh Thứu,
Núi thành Magadha.

Người thấy bốn sự thật,
Với chân chánh trí tuệ,
Khổ và khổ tập khởi,
Sẽ vượt qua đau khổ,
Con đường Thánh tám ngành,
Dẫn đến khổ tịnh chỉ.

Người ấy phải luân chuyển,
Tối đa là bảy lần.
Là vị đoạn tận khổ,
Ðoạn diệt mọi kiết sử.

 

  1. The 2bd Subchaper (Unfortunate) – Phẩm Thứ Hai.

 

  • (1) Unfortunate

 

1) On one occasion, while dwelling at Sāvatthı̄, the Blessed One said this:

2-3) “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

4) Whenever you see anyone in misfortune, in misery, you can conclude: ‘We too have experienced the same thing in this long course.’

5) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

1) Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi…

2) Tại đấy…

3) — Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

4) Này các Tỷ-kheo, khi các Ông thấy sự khốn cùng, bất hạnh, các Ông phải đi đến kết luận: “Chúng ta chịu đựng như vậy trong thời gian dài này”.

5) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

 

  • (2) Happy – An Lạc

 

  • … At Sāvatthı̄.

2) — “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning….

3) Whenever you see anyone happy and fortunate, you can conclude: ‘We too have experienced the same thing in this long course.’

4) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

1) … Trú ở Sàvatthi…

2) — Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…

3) Này các Tỷ-kheo, khi các Ông thấy an lạc, may mắn, các Ông phải đi đến kết luận: “Chúng ta chịu đựng như vậy trong thời gian dài này”.

4) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

 

  • (3) Thirty Bhikkhus – Khoảng Ba Mươi

 

1) At Rājagaha in the Bamboo Grove.

2) Then thirty bhikkhus from Pāvā approached the Blessed One—all forest dwellers, almsfood eaters, rag-robe wearers, triple-robe users, yet all were still with fetters. Having approached, they paid homage to the Blessed One and sat down to one side.

3) Then it occurred to the Blessed One: “These thirty bhikkhus from Pāvā are all forest dwellers, almsfood eaters, rag-robe wearers, triple-robe users, yet all are still with fetters. Let me teach them the Dhamma in such a way that while they are sitting in these very seats their minds will be liberated from the taints by nonclinging.”

4) Then the Blessed One addressed those bhikkhus thus: “Bhikkhus!”

“Venerable sir!” those bhikkhus replied.

5) The Blessed One said this:

 — “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

6) What do you think, bhikkhus, which is more: the stream of blood that you have shed when you were beheaded as you roamed and wandered on through this long course—this or the water in the four great oceans?”

7) “As we understand the Dhamma taught by the

Blessed One, venerable sir, the stream of blood that we have shed when we were beheaded as we roamed and wandered on through this long course—this alone is more than the water in the four great oceans.”

8) “Good, good, bhikkhus! It is good that you understand the Dhamma taught by me in such a way.

1) … Trú ở Vương Xá, Trúc Lâm.

2) Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử, cùng đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà này, tất cả sống ở rừng, tất cả đi khất thực, tất cả mang y phấn tảo, tất cả mang ba y, tất cả đang còn kiết sử. Vậy Ta hãy thuyết pháp cho họ như thế nào để ngay tại chỗ ngồi này, tâm của họ được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ”.

4) Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo” — “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

5) Thế Tôn nói như sau:

— Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

6) Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo, cái nào là nhiều hơn, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, hay là nước trong bốn biển lớn?

7) — Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, bạch Thế Tôn, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích, khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.

8) Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu Pháp Ta dạy như vậy!

 

9) The stream of blood that you have shed when you were beheaded as you roamed and wandered on through this long course—this alone is more than the water in the four great oceans.

10) For a long time, bhikkhus, you have been cows, and when as cows you were beheaded, the stream of blood that you shed is greater than the waters in the four great oceans.

11-19) For a long time you have been buffalo, sheep, goats, deer, chickens, and pigs…. For a long time you have been arrested as burglars, highwaymen, and adulterers, and when you were beheaded, the stream of blood that you shed is greater than the water in the four great oceans.

9) Cái này là nhiều hơn, này các Tỷ-kheo, tức là dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này, không phải là nước trong bốn biển lớn.

10) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu các Ông bị thương tích khi các Ông là bò, sanh ra làm bò trong thời gian dài, hay là nước trong bốn biển lớn?

11) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông là trâu, sanh ra làm trâu trong thời gian dài…

12) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông là cừu, sanh ra làm cừu trong thời gian dài…

13) … khi các Ông là dê, sanh ra làm dê…

14) … khi các Ông là nai, sanh ra làm nai…

15) … khi các Ông là gia cầm, sanh ra làm gia cầm…

16) … khi các Ông là heo, sanh ra làm heo…

17) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, làm kẻ trộm làng, bị bắt trong thời gian dài…

18) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, ăn cướp đường, bị bắt trong thời gian dài…

19) Này các Tỷ-kheo, dòng máu tuôn chảy do đầu bị thương tích khi các Ông làm đạo tặc, tư thông vợ người, bị bắt trong thời gian dài chớ không phải là nước trong bốn biển lớn.

 

20) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

21) This is what the Blessed One said. Elated, those bhikkhus delighted in the Blessed One’s statement.

22) And while this exposition was being spoken, the minds of the thirty bhikkhus from Pāvā were liberated from the taints by nonclinging.

20) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành…

21) Thế Tôn nói như vậy, các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

22) Và trong khi lời dạy này được tuyên bố, đối với ba mươi vị Tỷ-kheo xứ Pàvà, tâm các vị ấy được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

 

14 (4) Mother, Etc. – Mẹ

 

  • … At Sāvatthı̄.

2) — “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning….

3) It is not easy, bhikkhus, to find a being who in this long course has not previously been your mother … your father … your brother … your sister … your son … your daughter.

4) For what reason? Because, bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning…. It is enough to be liberated from them.”

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) — Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…

3) Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ…

4) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo… là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành.

15 (5) Cha

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) — Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo…

3) Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm cha…

16 (6) Anh

1) … Trú tại Sàvatthi.

2) — Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm anh…

17 (7) Chị

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) — Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm chị…

18 (8) Con Trai

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) — Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm con trai…

19 (9) Con Gái

1) … Trú ở Sàvatthi.

2) — Vô thỉ là luân hồi, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

3) Này các Tỷ-kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm con gái.

4) Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ, này các Tỷ-kheo, đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

5) Như vậy, trong thời gian này, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, mộ phần càng ngày càng lớn lên. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

 

20 (10) Mount Vepulla – Núi Vepulla

 

1) On one occasion the Blessed One was dwelling at Rājagaha on Mount Vulture Peak.

2) There the Blessed One addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus!” 

— “Venerable sir!” those bhikkhus replied.

3) The Blessed One said this:

— “Bhikkhus, this saṃsāra is without discoverable beginning. A first point is not discerned of beings roaming and wandering on hindered by ignorance and fettered by craving.

4) In the past, bhikkhus, this Mount Vepulla was called Pācı̄navaṃsa, and at that time these people were called Tivaras. The life span of the Tivaras was

40,000 years. They could climb Mount Pācı̄navaṃsa in four days and descend in four days.

5) At that time the Blessed One Kakusandha, an Arahant, a Perfectly Enlightened One, had arisen in the world. His two chief disciples were named Vidhura and Sañjı̄va, an excellent pair.

1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjhakùta (Linh Thứu).

2) Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo…

3) Thế Tôn nói như sau:

— Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo. Khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

4) Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Pàcìnavamsa. Lúc bấy giờ, dân chúng được biết với tên là Tivàrà. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Tivàrà có tuổi thọ đến 40.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Tivàrà phải bốn ngày để leo lên núi Pàcìnavamsa, phải bốn ngày để leo xuống.

5) Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kakusandha, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Vidhura và Sajìva.

 

6) See, bhikkhus! That name for this mountain has disappeared, those people have died, and that Blessed One has attained final Nibbāna.

7) So impermanent are formations, bhikkhus, so unstable, so unreliable. It is enough, bhikkhus, to experience revulsion towards all formations, enough to become dispassionate towards them, enough to be liberated from them.

8) “[At another time] in the past, bhikkhus, this Mount Vepulla was called Vaṅkaka, and at that time these people were called Rohitassas. The life span of the Rohitassas was 30,000 years. They could climb Mount Vaṅkaka in three days and descend in three days.

6) Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt.

7) Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Bất an như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo là vừa đủ để nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

8) Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Vànkaka. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, dân chúng được biết với tên là Rohita. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Rohita có tuổi thọ đến 30.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Rohita phải ba ngày để leo lên núi Vànkaka, phải ba ngày để leo xuống.

 

9-10) At that time the Blessed One Koṇāgamana, an Arahant, a Perfectly Enlightened One, had arisen in the world. His two chief disciples were named Bhiyyosa and Uttara, an excellent pair.

See, bhikkhus! That name for this mountain has disappeared, those people have died, and that Blessed One has attained final Nibbāna.

9) Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Konàgamana, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Bhìyya và Suttara.

10) Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt. Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành… là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

 

11-13) So impermanent are formations…. It is enough to be liberated from them.

“[At still another time] in the past, bhikkhus, this Mount Vepulla was called Supassa, and at that time these people were called Suppiyas. The life span of the Suppiyas was 20,000 years. They could climb Mount Supassa in two days and descend in two days. At that time the Blessed One Kassapa, an Arahant, a Perfectly Enlightened One, had arisen in the world. His two chief disciples were named Tissa and Bhāradvāja, an excellent pair. See, bhikkhus! That name for this mountain has disappeared, those people have died, and that Blessed One has attained final Nibbāna.

11) Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Supassa. Lúc bấy giờ, này các Tỷ-kheo, dân chúng được biết với tên là Suppiya. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Suppiya có tuổi thọ đến 20.000 năm. Này các Tỷ-kheo, dân chúng Suppiya phải hai ngày để leo núi Supassa, phải hai ngày để leo xuống.

12) Lúc bấy giờ, Thế Tôn Kassapa, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Kassapa, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác, có hai đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Tissa và Bhàradvàja.

13) Hãy nhìn xem, này các Tỷ-kheo, tên của hòn núi ấy đã biến mất, dân chúng ấy đã mệnh chung, và bậc Thế Tôn ấy đã nhập diệt.

 

14) So impermanent are formations…. It is enough to be liberated from them.

15) “At present, bhikkhus, this Mount Vepulla is called Vepulla, and at present these people are called Magadhans. The life span of the Magadhans is short, limited, fleeting; one who lives long lives a 100 years or a little more. The Magadhans climb Mount Vepulla in an hour and descend in an hour.

16) At present I have arisen in the world, an Arahant, a Perfectly Enlightened One. My two chief disciples are named Sāriputta and Moggallāna, an excellent pair.

14) Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành… là vừa đủ để được giải thoát đối với tất cả các hành.

15) Hiện tại, này các Tỷ-kheo, núi Vepulla này được biết với tên là Vepulla. Hiện tại, này các Tỷ-kheo, dân chúng ấy được biết với tên là Magadhaka. Tuổi thọ dân chúng Magadhaka ấy, này các Tỷ-kheo, là ít, nhẹ, không bao nhiêu, họ sống lâu cho đến 100 tuổi hay hơn một chút. Dân chúng Magadhaka, này các Tỷ-kheo, leo lên núi Vepulla này trong một thời gian ngắn, leo xuống trong một thời gian ngắn.

16) Hiện tại, này các Tỷ-kheo, Ta, bậc Ứng Cúng, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời. Này các Tỷ-kheo, Ta có hai vị đệ tử, hai vị thượng thủ, hiền thiện tên là Sàriputta và Moggallàna.

 

17) There will come a time, bhikkhus, when the name for this mountain will have disappeared, when these people will have died, and I will have attained final Nibbāna.

18) So impermanent are formations, bhikkhus, so unstable, so unreliable. It is enough, bhikkhus, to experience revulsion towards all formations, enough to become dispassionate towards them, enough to be liberated from them.”

19) This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:

 

“This was called Pācı̄navaṃsa by the Tivaras,

And Vaṅkaka by the Rohitassas,

Supassa by the Suppiya people,

Vepulla by the Magadhan folk.

 

“Impermanent, alas, are formations,

Their nature is to arise and vanish.

Having arisen, they cease:

Their appeasement is blissful.”

17) Một thời sẽ đến, này các Tỷ-kheo, tên của ngọn núi này sẽ biến mất, dân chúng sẽ mệnh chung, và Ta sẽ nhập diệt.

18) Vô thường như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Không kiên cố, này các Tỷ-kheo, là các hành. Bất an như vậy, này các Tỷ-kheo, là các hành. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để được nhàm chán, là vừa đủ để từ bỏ, là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

19) Thế Tôn nói như vậy, bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Pacinavamsa,
Với dân Tivàra.
Tên núi Vankaka
Với dân Rohita.
Tên núi Supassa
Với dân Suppiyà.
Tên núi Vepulla
Với dân Magadha,

Chư hành là vô thường,
Phải sanh rồi phải diệt,
Sau khi sanh, chúng diệt,
Chúng tịnh là an lạc.

 

Sources:

Tài liệu tham khảo:

  1. http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-15.htm
  2. http://lirs.ru/lib/sutra/Connected_Discourses_of_the_Buddha(Samyutta_Nikaya).Vol.I.pdf