Tập II – Chương I – Tương Ưng Nhân Duyên – Nidā̄nasaṃyutta Connected Discourses on Causation – Song ngữ

Anh ngữ: Bhikkhu Bodhi.

Việt ngữ: Hòa thượng Thích Minh Châu.

Compile: Lotus group

 

  1. The Great Subchapter – Ðại Phẩm Thứ Bảy (10 lessons).
  2. Ascetics and Brahmins – Sa Môn, Bà La Môn: Phẩm Thứ Tám (2 lessons).
  3. With Incorporated Repetitionseries – Trung Lược Phẩm (12 lessons).

 

VII. THE GREAT SUBCHAPTER – Ðại Phẩm Thứ Bảy

  

61 (1) Uninstructed (1) – Hạng Người Ít Nghe

 

1) Thus have I heard.

On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthı̄ in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park….

2)– “Bhikkhus, the uninstructed worldling might experience revulsion towards this body composed of the four great elements; he might become dispassionate towards it and be liberated from it.

3) For what reason? Because growth and decline is seen in this body composed of the four great elements, it is seen being taken up and laid aside.

Therefore the uninstructed worldling might experience revulsion towards this body composed of the four great elements; he might become dispassionate towards it and be liberated from it.

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.

2) — Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát thân do bốn đại tạo thành này.

3) Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì họ thấy được cái thân do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả.

Do vậy, ở đây kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn ly, giải thoát.

 

4) “But, bhikkhus, as to that which is called ‘mind’ and ‘mentality’ and ‘consciousness’—the uninstructed worldling is unable to experience revulsion towards it, unable to become dispassionate towards it and be liberated from it. 5) For what reason? Because for a long time this has been held to by him, appropriated, and grasped thus: ‘This is mine, this I am, this is my self.’

Therefore the uninstructed worldling is unable to experience revulsion towards it, unable to become dispassionate towards it and be liberated from it.

6) “It would be better, bhikkhus, for the uninstructed worldling to take as self this body composed of the four great elements rather than the mind.

7) For what reason? Because this body composed of the four great elements is seen standing for one year, for two years, for three, four, five, or ten years, for twenty, thirty, forty, or fifty years, for a hundred years, or even longer. But that which is called ‘mind’ and ‘mentality’ and ‘consciousness’ arises as one thing and ceases as another by day and by night.

4) Và này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.

5) Vì sao? Ðã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”.

Do vậy, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.

6) Này các Tỷ-kheo, thật tốt hơn cho kẻ vô văn phàm phu đi đến với thân do bốn đại tạo thành này xem như là tự ngã, hơn là đối với tâm.

7) Vì sao? Này các Tỷ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm, đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỷ-kheo, cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.

 

8) Just as a monkey roaming through a forest grabs hold of one branch, lets that go and grabs another, then lets that go and grabs still another, so too that which is called ‘mind’ and ‘mentality’ and ‘consciousness’ arises as one thing and ceases as another by day and by night.

9) “Therein, bhikkhus, the instructed noble disciple attends closely and carefully to dependent origination itself thus: ‘When this exists, that comes to be; with the arising of this, that arises. When this does not exist, that does not come to be; with the cessation of this, that ceases. That is, with ignorance as condition, volitional formations [come to be]; with volitional formations as condition, consciousness…. Such is the origin of this whole mass of suffering. But with the remainder less fading away and cessation of ignorance comes cessation of volitional formations; with the cessation of volitional formations, cessation of consciousness…. Such is the cessation of this whole mass of suffering.

8) Này các Tỷ-kheo, ví như một con khỉ trong khi đi lại trong rừng núi, nắm lấy một nhành cây, bỏ nhành cây ấy xuống, nó nắm giữ một nhành khác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức này cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.

9) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy định lý duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt”. Ví như do duyên vô minh, các hành sanh khởi. Do duyên hành, thức sanh khởi… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

 

10) “Seeing thus, bhikkhus, the instructed noble disciple experiences revulsion towards form, revulsion towards feeling, revulsion towards perception, revulsion towards volitional formations, revulsion towards consciousness. Experiencing revulsion, he becomes dispassionate. Through dispassion [his mind] is liberated.

11) When it is liberated there comes the knowledge: ‘It’s liberated.’ He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’”

10) Do đoạn diệt, ly tham vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt. Do hành diệt nên thức diệt… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

11) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên viễn ly; do viễn ly nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết được: “Ta giải thoát”, vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.

 

62 (2) Uninstructed (2) – Hạng Người Ít Nghe

 

(This sutta is identical with the preceding one from the opening down to the monkey simile. It then omits the monkey simile and continues as follows:)

(Bài kinh này giống hệt với bài trước từ số 1- 7 (thí dụ con khỉ) và tiếp tục như sau:)

 

8-11) “Therein, bhikkhus, the instructed noble disciple attends closely and carefully to dependent origination itself thus: ‘When this exists, that comes to be; with the arising of this, that arises. When this does not exist, that does not come to be; with the cessation of this, that ceases.’

9) Bhikkhus, in dependence on a contact to be experienced as pleasant, a pleasant feeling arises. With the cessation of that contact to be experienced as pleasant, the corresponding feeling—the pleasant feeling that arose in dependence on that contact to be experienced as pleasant—ceases and subsides.

10) In dependence on a contact to be experienced as painful, a painful feeling arises. With the cessation of that contact to be experienced as painful, the corresponding feeling— the painful feeling that arose in dependence on that contact to be experienced as painful—ceases and subsides.

11) In dependence on a contact to be experienced as neither-painful-nor-pleasant, a neither-painful-nor-pleasant feeling arises. With the cessation of that contact to be experienced as neither-painful-nor-pleasant, the corresponding feeling—the neither-painful-nor-pleasant feeling that arose in dependence on that contact to be experienced as neither-painful-nor-pleasant—ceases and subsides.

8) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn chánh tư duy lý duyên khởi: “Do cái này có mặt, cái kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt”.

9) Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ, nên lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy được chấm dứt.

10) Này các Tỷ-kheo do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ, nên khổ thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ ấy diệt, nên khổ thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến khổ thọ ấy diệt, khổ thọ ấy chấm dứt.

11) Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ, nên bất khổ bất lạc thọ sanh khởi. Do xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, nên bất khổ bất lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc ấy diệt, bất khổ bất lạc thọ ấy chấm dứt.

 

12) “Bhikkhus, just as heat is generated and fire is produced from the conjunction and friction of two fire sticks, but with the separation and laying aside of the sticks the resultant heat ceases and subsides.

13-15) So too, in dependence on a contact to be experienced as pleasant…a contact to be experienced as painful…a contact to be experienced as neither-painful-nor-pleasant, a neither-painful-nor-pleasant feeling arises…. With the cessation of that contact to be experienced as neither-painful-nor-pleasant, the corresponding feeling … ceases and subsides.

12) Ví như, này các Tỷ-kheo, do hai khúc cây cọ xát hòa hợp nên sức nóng được sanh, lửa được khởi lên. Do hai khúc cây ấy xa lìa tách biệt, nên sức nóng ấy đoạn diệt, sức nóng ấy chấm dứt.

13) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ nên lạc thọ sanh khởi. Do xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy chấm dứt.

14) Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ…

15) Do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ, nên bất khổ bất lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, nên bất khổ bất lạc thọ ấy được khởi lên do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, bất khổ bất lạc thọ ấy chấm dứt.

 

16) “Seeing thus, bhikkhus, the instructed noble disciple experiences revulsion towards contact, revulsion towards feeling, revulsion towards perception, revulsion towards volitional formations, revulsion towards consciousness. Experiencing revulsion, he becomes dispassionate. Through dispassion [his mind] is liberated. When it is liberated there comes the knowledge: ‘It’s liberated.’ He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’”

16) Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với xúc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên viễn ly; do viễn ly nên giải thoát. Trong sự giải thoát trí khởi lên, biết rằng: “Ta đã giải thoát”, vị ấy biết rõ : “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa”.

 

63 (3) Son’s Flesh – Thịt Ðứa Con

 

1)…At S̄avattı̄.

2)–“Bhikkhus, there are these four kinds of nutriment for the maintenance of beings that have already come to be and for the assistance of those about to come to be.

3) What four? The nutriment edible food, gross or subtle; second, contact; third, mental volition; fourth, consciousness.

These are the four kinds of nutriment for the maintenance of beings that have already come to be and for the assistance of those about to come to be.

4) “And how, bhikkhus, should the nutriment edible food be seen?

1) …Ở Sàvatthi.

2) …Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.

3) Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực.

Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.

4) Và này các Tỷ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?

 

5) Suppose a couple, husband and wife, had taken limited provisions and were travelling through a desert. They have with them their only son, dear and beloved.

6) Then, in the middle of the desert, their limited provisions would be used up and exhausted, while the rest of the desert remains to be crossed.

7) The husband and wife would think: ‘Our limited provisions have been used up and exhausted, while the rest of this desert remains to be crossed. Let us kill our only son, dear and beloved, and prepare dried and spiced meat. By eating our son’s flesh, we can cross the rest of this desert. Let not all three of us perish!’

5) Ví như, này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.

6) Rồi này các Tỷ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.

7) Rồi này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: “Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại”.

 

8) “Then, bhikkhus, the husband and wife would kill their only son, dear and beloved, prepare dried and spiced meat, and by eating their son’s flesh they would cross the rest of the desert. While they are eating their son’s flesh, they would beat their breasts and cry: ‘Where are you, our only son? Where are you, our only son?’

9) “What do you think, bhikkhus? Would they eat that food for amusement or for enjoyment or for the sake of physical beauty and attractiveness?”

–“No, venerable sir.”

10) “Wouldn’t they eat that food only for the sake of crossing the desert?”

–“Yes, venerable sir.”

8) Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: “Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?”

9) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?

— Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.

10) — Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?

— Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

 

11) “It is in such a way, bhikkhus, that I say the nutriment edible food should be seen. When the nutriment edible food is fully understood, lust for the five cords of sensual pleasure is fully understood. When lust for the five cords of sensual pleasure is fully understood, there is no fetter bound by which a noble disciple might come back again to this world.

11) — Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỷ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.

 

12) “And how, bhikkhus, should the nutriment contact be seen?

13) Suppose there is a flayed cow. If she stands exposed to a wall, the creatures dwelling in the wall would nibble at her. If she stands exposed to a tree, the creatures dwelling in the tree would nibble at her. If she stands exposed to water, the creatures dwelling in the water would nibble at her. If she stands exposed to the open air, the creatures dwelling in the open air would nibble at her. Whatever that flayed cow stands exposed to, the creatures dwelling there would nibble at her. It is in such a way, bhikkhus, that I say the nutriment contact should be seen.

14) When the nutriment contact is fully understood, the three kinds of feeling are fully understood. When the three kinds of feeling are fully understood, I say, there is nothing further that a noble disciple needs to do.

12) Và này các Tỷ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?

13) Này các Tỷ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỷ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét.

14) Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.

 

15) “And how, bhikkhus, should the nutriment mental volition be seen?

16) Suppose there is a charcoal pit deeper than a man’s height, filled with glowing coals without flame or smoke. A man would come along wanting to live, not wanting to die, desiring happiness and averse to suffering. Then two strong men would grab him by both arms and drag him towards the charcoal pit. The man’s volition would be to get far away, his longing would be to get far away, his wish would be to get far away [from the charcoal pit].

For what reason? Because he knows: ‘I will fall into this charcoal pit and on that account, I will meet death or deadly suffering.’

17) “It is in such a way, bhikkhus, that I say the nutriment mental volition should be seen. When the nutriment mental volition is fully understood, the three kinds of craving are fully understood.

18) When the three kinds of craving are fully understood, I say, there is nothing further that a noble disciple needs to do.

15) Và này các Tỷ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?

16) Này các Tỷ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỷ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy.

17) Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: “Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.

18) Này các Tỷ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.

 

19) “And how, bhikkhus, should the nutriment consciousness be seen?

20) Suppose they were to arrest a bandit, a criminal, and bring him before the king, saying: ‘Sire, this man is a bandit, a criminal. Impose on him whatever punishment you wish.’ The king says to them: ‘Go, men, in the morning strike this man with a hundred spears.’ In the morning they strike him with a hundred spears.

21) Then at noon the king asks: ‘Men, how’s that man?’–‘Still alive, sire.’–‘Then go, and at noon strike him with a hundred spears.’ At noon they strike him with a hundred spears.

22) Then in the evening the king asks: ‘Men, how’s that man?’–‘Still alive, sire.’ –‘Then go, and in the evening strike him with a hundred spears.’ In the evening they strike him with a hundred spears.

23) “What do you think, bhikkhus? Would that man, being struck with three hundred spears, experience pain and displeasure on that account?”

–“Venerable sir, even if he were struck with one spear he would experience pain and displeasure on that account, not to speak of three hundred spears.”

24) “It is in such a way, bhikkhus, that I say the nutriment consciousness should be seen.

25) When the nutriment consciousness is fully understood, name-and-form is fully understood. When name-and-form is fully understood, I say, there is nothing further that a noble disciple needs to do.”

19) Và này các Tỷ-kheo, thức thực cần phải nhận xét như thế nào?

20) Ví như, này các Tỷ-kheo, người ta bắt một người ăn trộm, một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: “Thưa Ðại vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội. Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn”. Vị vua nói như sau về người ấy: “Các Ông hãy đi và đánh người này với một trăm hèo vào buổi sáng”. Và họ đánh người ấy với một trăm hèo vào buổi sáng.

21) Rồi vị vua vào buổi trưa nói: “Này các Ông, người ấy như thế nào?” — “Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa”. Và họ đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.

22) Rồi vị vua vào buổi chiều nói: “Này các Ông, người ấy như thế nào?” — “Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống”. Rồi vua nói về người ấy: “Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều”.

23) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu không?

— Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!

24) — Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói thức thực cần phải nhận xét.

25) Này các Tỷ-kheo, khi thức thực đựơc hiểu rõ, thời danh sắc được hiểu rõ. Khi danh sắc được hiểu rõ, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa.

  

64 (4) If There Is Lust – Có Tham

 

1)…At Sāvatthı̄.

2)–“Bhikkhus, there are these four kinds of nutriment for the maintenance of beings that have already come to be and for the assistance of those about to come to be.

3) What four? The nutriment edible food, gross or subtle; second, contact; third, mental volition; fourth, consciousness.

These are the four kinds of nutriment for the maintenance of beings that have already come to be and for the assistance of those about to come to be.

1) …Trú ở Sàvatthi.

2) — Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn đưa đến sự tồn tại hay sự chấp thủ tái sanh của các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.

3) Thế nào là bốn? Ðoàn thực thô hoặc tế, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư.

Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.

 

4) “If, bhikkhus, there is lust for the nutriment edible food, if there is delight, if there is craving, consciousness becomes established there and comes to growth. Wherever consciousness becomes established and comes to growth, there is a descent of name-and-form. Where there is a descent of name-and-form, there is the growth of volitional formations. Where there is the growth of volitional formations, there is the production of future renewed existence. Where there is the production of future renewed existence, there is future birth, aging, and death. Where there is future birth, aging, and death, I say that is accompanied by sorrow, anguish, and despair.

4) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.

 

5-7) “If, bhikkhus, there is lust for the nutriment contact, or for the nutriment mental volition, or for the nutriment consciousness, if there is delight, if there is craving, consciousness becomes established there and comes to growth. Wherever consciousness becomes established and comes to growth … I say that is accompanied by sorrow, anguish, and despair.

5) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực… (như trên)…

6) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực…

7) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.

 

8) “Suppose, bhikkhus, an artist or a painter, using dye or lac or turmeric or indigo or crimson, would create the figure of a man or a woman complete in all its features on a well-polished plank or wall or canvas.

9-12) So too, if there is lust for the nutriment edible food, or for the nutriment contact, or for the nutriment mental volition, or for the nutriment consciousness, if there is delight, if there is craving, consciousness becomes established there and comes to growth. Wherever consciousness becomes established and comes to growth … I say that is accompanied by sorrow, anguish, and despair.

8) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một người thợ vẽ. Nếu có thuốc nhuộm hay sơn màu nghệ, màu xanh, hay màu đỏ, có một tấm bảng khéo đánh bóng, một bức tường hay tấm vải, có thể phác họa hình người đàn bà hay người đàn ông có đầy đủ chân tay.

9) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức an trú, tăng trưởng chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.

10) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…

11) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với niệm thực…

12) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già, chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.

 

13-16) “If, bhikkhus, there is no lust for the nutriment edible food, or for the nutriment contact, or for the nutriment mental volition, or for the nutriment

consciousness, if there is no delight, if there is no craving, consciousness does not become established there and come to growth. Where consciousness does not become, established and come to growth, there is no descent of name-and-form. Where there is no descent of nameand-form, there is no growth of volitional formations. Where there is no growth of volitional formations, there is no production of future renewed existence. Where there is no production of future renewed existence, there is no future birth, aging, and death. Where there is no future birth, aging, and death, I say that is without sorrow, anguish, and despair.

13) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào không có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già, chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già, chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.

14) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…

15) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực …

16) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào không có thức an trú, tăng trưởng, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.

 

17) “Suppose, bhikkhus, there was a house or a hall with a peaked roof, with windows on the northern, southern, and eastern sides. When the sun rises and a beam of light enters through a window, where would it become established?”

–“On the western wall, venerable sir.”

18)– “If there were no western wall, where would it become established?”

–“On the earth, venerable sir.”

19)–“If there were no earth, where would it become established?”

–“On the water, venerable sir.”

20) “If there were no water, where would it become established?”

–“It would not become established anywhere, venerable sir.”

21-24)–“So too, bhikkhus, if there is no lust for the nutriment edible food … for the nutriment contact … for the nutriment mental volition … for the nutriment consciousness … consciousness does not become established there and come to growth. Where consciousness does not become established and come to growth … I say that is without sorrow, anguish, and despair.”174

17) Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có mái hay một dãy hành lang có mái, có cửa sổ phía Bắc, phía Nam, hay phía Ðông. Khi mặt trời mọc lên, ánh sáng ngang qua cửa sổ chiếu vào, thời chiếu vào chỗ nào?

— Bạch Thế Tôn, chiếu vào tường phía Tây.

18) — Này các Tỷ-kheo, nếu không có tường phía Tây, thời chiếu vào chỗ nào?

— Bạch Thế Tôn, chiếu trên đất.

19) — Này các Tỷ-kheo, nếu không có đất, thời chiếu vào chỗ nào?

— Bạch Thế Tôn, chiếu trên nước.

20) — Này các Tỷ-kheo, nếu không có nước, thời chiếu vào chỗ nào?

— Bạch Thế Tôn, không có chiếu ở đâu cả.

21) — Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực không có tham, không có hỷ, không có ái…

22) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực…

23) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực…

24) Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, không có tham, không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú. Chỗ nào không có thức an trú, chỗ ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không có não.

65 (5) The City – Thành Ấp

 

1)… At Sāvatthı̄.

2)– “Bhikkhus, before my enlightenment, while I was still a bodhisatta, not yet fully enlightened, it occurred to me: ‘Alas, this world has fallen into trouble, in that it is born, ages, and dies, it passes away and is reborn, yet it does not understand the escape from this suffering [headed by] aging-and-death. When now will an escape be discerned from this suffering [headed by] aging-and-death?’

3) “Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘When what exists does aging-and-death come to be? By what is aging-and-death conditioned?’

4) Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is birth, aging-and-death comes to be; aging-and-death has birth as its condition.’

1) …Tại Sàvatthi.

2) — Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, và bị tái sanh; và từ nơi đau khổ này, không biết xuất ly khỏi già và chết; từ nơi đau khổ này, không biết khi nào được biết đến xuất ly khỏi già và chết”.

3) Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: ” Do cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì, già chết sanh khởi?”

4) Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh có mặt nên già chết hiện hữu. Do duyên sanh, nên già chết sanh khởi”.

 

5) “Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘When what exists does birth come to be?… existence?… clinging? … craving?… feeling?… contact?… the six sense bases?… name-and-form? By what is name-and-form conditioned?’

6) Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is consciousness, name-and-form comes to be; name-and-form has consciousness as its condition.’

7) “Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘When what exists does consciousness come to be? By what is consciousness conditioned? ’

8) Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is name-and-form, consciousness comes to be; consciousness has name-and-form as its condition.’

5) Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu ? Ái hiện hữu ? Thọ hiện hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện hữu? Do duyên cái gì, danh sắc sanh khởi?”

6) Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức có mặt nên danh sắc hiện hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi”.

7) Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì có mặt, thức hiện hữu. Do duyên cái gì, thức sanh khởi?”

8) Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau : “Do danh sắc có mặt nên thức hiện hữu. Do duyên danh sắc nên thức sanh khởi”.

 

9) “Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘This consciousness turns back; it does not go further than name-and-form. It is to this extent that one may be born and age and die, pass away and be reborn, that is, when there is consciousness with name-and-form as its condition, and name-and-form with consciousness as its condition. With name-and-form as condition, the six sense bases; with the six sense bases as condition, contact…. Such is the origin of this whole mass of suffering.’

10) “‘Origination, origination’—thus, bhikkhus, in regard to things unheard before there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light.

11) “Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘When what does not exist does aging-and-death not come to be? With the cessation of what does the cessation of aging-and-death come about?’

12) Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is no birth, aging-and-death does not come to be; with the cessation of birth comes cessation of aging-and-death.’

9) Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: “Thức này trở lui, không đi xa hơn danh sắc. Xa đến như vậy, chúng ta bị sanh, bị già, bị chết, bị đoạn diệt, bị tái sanh, nghĩa là do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi..”. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

10) “Tập khởi, tập khởi”. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.

11) Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu? Do cái gì diệt, già chết diệt?”

12) Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do sanh không có mặt, nên già chết không hiện hữu. Do sanh diệt, nên già chết diệt”.

 

13) “It occurred to me: ‘When what does not exist does birth not come to be?… existence?… clinging?… craving?… feeling?… contact?… the six sense bases?… name-and-form? With the cessation of what does the cessation of name-and-form come about?’ Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is no consciousness, name-and-form does not come to be; with the cessation of consciousness comes cessation of name-and-form.’

14-16) “It occurred to me: ‘When what does not exist does consciousness not come to be? With the cessation of what does the cessation of consciousness come about?’ Then, bhikkhus, through careful attention, there took place in me a breakthrough by wisdom: ‘When there is no name-and-form, consciousness does not come to be; with the cessation of name-and-form comes cessation of consciousness.’

13) Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: ” Do cái gì không có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện hữu? Do cái gì diệt, danh sắc diệt?”

14) Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do thức không có mặt, danh sắc không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt”.

15) Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Do cái gì không có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì diệt, nên thức diệt ?”

16) Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ, phát sinh minh kiến như sau: “Do danh sắc không có mặt, thức không hiện hữu. Do danh sắc diệt nên thức diệt”.

 

17) “Then, bhikkhus, it occurred to me: ‘I have discovered this path to enlightenment, that is, with the cessation of name-and-form comes cessation of consciousness; with the cessation of consciousness comes cessation of name-and-form; with the cessation of name-and-form, cessation of the six sense bases; with the cessation of the six sense bases, cessation of contact…. Such is the cessation of this whole mass of suffering.’

18) “‘Cessation, cessation’—thus, bhikkhus, in regard to things unheard before there arose in me vision, knowledge, wisdom, true knowledge, and light.

19) “Suppose, bhikkhus, a man wandering through a forest would see an ancient path, an ancient road travelled upon by people in the past. He would follow it and would see an ancient city, an ancient capital that had been inhabited by people in the past, with parks, groves, ponds, and ramparts, a delightful place. 20) Then the man would inform the king or a royal minister: ‘Sire, know that while wandering through the forest I saw an ancient path, an ancient road travelled upon by people in the past. I followed it and saw an ancient city, an ancient capital that had been inhabited by people in the past, with parks, groves, ponds, and ramparts, a delightful place.

21) Renovate that city, sire!’ Then the king or the royal minister would renovate the city, and some time later that city would become successful and prosperous, well populated, filled with people, attained to growth and expansion.

“So too, bhikkhus, I saw the ancient path, the ancient road travelled by the Perfectly Enlightened Ones of the past.

17) Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: “Ta đã chứng đắc con đường này đưa đến giác ngộ, tức là do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. ..(như trên)…Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt”.

18) “Ðoạn diệt, đoạn diệt”. Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh, tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.

19) Ví như, này các Tỷ-kheo, một người khi đi qua một khu rừng, một chặng núi, thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Người ấy đi theo con đường ấy, trong khi đi theo con đường ấy, người ấy thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao với thành lũy đẹp đẽ.

20) Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy báo cáo với vua hay vị đại thần: “Chư tôn hãy biết, trong khi đi ngang một khu rừng, một chặng núi, tôi thấy được một con đường cũ, một đạo lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Tôi đã đi theo con đường ấy và thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy đủ hồ ao, với thành lũy đẹp đẽ. Thưa các Tôn giả, hãy xây dựng lại ngôi thành ấy”.

21) Rồi này các Tỷ-kheo, vị vua hay vị đại thần cho xây dựng lại ngôi thành ấy. Và ngôi thành ấy, sau một thời gian lớn lên và trở thành một thành phố phồn vinh, thịnh vượng, đông đúc, tràn đầy người ở.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một đạo lộ cũ do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua.

 

22-33) And what is that ancient path, that ancient road? It is just this Noble Eightfold Path; that is, right view, right intention, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, right concentration. I followed that path and by doing so I have directly known aging-and-death, its origin, its cessation, and the way leading to its cessation. I have directly known birth … existence … clinging … .craving … feeling … contact … the six sense bases …. name-and-form … consciousness … volitional formations, their origin, their cessation, and the way leading to their cessation. Having directly known them, I have explained them to the bhikkhus, the bhikkhunı̄s, the male lay followers, and the female lay followers. This holy life, bhikkhus, has become successful and prosperous, extended, popular, widespread, well proclaimed among devas and humans.”

22) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến… chánh định. Con đường ấy, này các Tỷ-kheo, là con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi; Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa đến già chết đoạn diệt.

23-31) Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy; Ta thấy rõ sanh… Ta thấy rõ hữu… Ta thấy rõ thủ… Ta thấy rõ ái… Ta thấy rõ thọ… Ta thấy rõ xúc… Ta thấy rõ sáu xứ… Ta thấy rõ danh sắc… Ta thấy rõ thức…

32) Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành đoạn diệt.

33) Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỷ-kheo, tức là Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo trình bày.

 

66 (6) Exploration – Xúc Chạm, Biết Rõ

 

1) Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling among the Kurus, where there was a town of the Kurus named Kammāsadamma.

2) There the Blessed One addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus!”

“Venerable sir!” those bhikkhus replied.

3) The Blessed One said this:

–“Do you engage in inward exploration, bhikkhus?”

4) When this was said, one bhikkhu said to the Blessed One:

— “Venerable sir, I engage in inward exploration.” 

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kuru, tại thị trấn dân chúng Kuru tên là Kammàsadhamma.

2) Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: — “Này các Tỷ-kheo”. — “Bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

3) Thế Tôn nói như sau:

— Này các Tỷ-kheo, các Ông có nắm giữ với nội xúc hay không?

4) Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn, con có nắm giữ, với nội xúc.

 

5) — “How do you engage in inward exploration, bhikkhu?”

6) The bhikkhu then explained but the way he explained did not satisfy the Blessed One.

7) Then the Venerable Ānanda said:

— “Now is the time for this, Blessed One! Now is the time for this, Fortunate One! Let the Blessed One explain inward exploration. Having heard it from the Blessed One, the bhikkhus will remember it.” 

8) — “Then listen and attend closely, Ānanda, I will speak.”

— “Yes, venerable sir,” the bhikkhus replied.

5) — Này các Tỷ-kheo, nhưng Ông nắm giữ nội xúc như thế nào?

6) Tỷ-kheo ấy trả lời. Với câu trả lời, Tỷ-kheo ấy không làm tâm Thế Tôn thỏa mãn.

7) Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời. Bạch Thiện Thệ, nay đã đến thời Thế Tôn nói về nội xúc. Sau khi nghe, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

8) — Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.

— Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

 

9) The Blessed One said this:

Thế Tôn nói như sau:

— “Here, bhikkhus, when engaged in inward exploration, a bhikkhu explores thus: ‘The many diverse kinds of suffering that arise in the world [headed by] aging-anddeath: what is the source of this suffering, what is its origin, from what is it born and produced? When what exists does aging-and-death come to be? When what does not exist does aging-and-death not come to be?’

— Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc, nắm giữ nội xúc như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện hữu?”.

 

“As he explores he understands thus: ‘The many diverse kinds of suffering that arise in the world [headed by] aging-and-death: this suffering has acquisition as its source, acquisition as its origin; it is born and produced from acquisition. When there is acquisition, aging-and-death comes to be; when there is no acquisition, aging-and-death does not come to be.’

Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết như sau: “Sự đau khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết. Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi, lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu. Do sanh y có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh y không có mặt, già chết không hiện hữu”.

 

“He understands aging-and-death, its origin, its cessation, and the way leading on that is in conformity with its cessation. He practises in that way and conducts himself accordingly. This is called a bhikkhu who is practising for the utterly complete destruction of suffering, for the cessation of aging-and-death.

Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một vị tùy pháp hành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã thực hành để diệt tận khổ đau, để đoạn diệt già chết một cách hoàn toàn.

 

10) “Then, engaging further in inward exploration, he explores thus: ‘What is the source of this acquisition, what is its origin, from what is it born and produced? When what exists does acquisition come to be? When what is absent does acquisition not come to be?’

“As he explores he understands thus: ‘Acquisition has craving as its source, craving as its origin; it is born and produced from craving. When there is craving, acquisition comes to be; when there is no craving, acquisition does not come to be.’

“He understands acquisition, its origin, its cessation, and the way leading on that is in conformity with its cessation. He practises in that way and conducts himself accordingly.

This is called a bhikkhu who is practising for the utterly complete destruction of suffering, for the cessation of acquisition.

10) Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Sanh y này lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì làm tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, sanh y hiện hữu? Cái gì không có mặt, sanh y không hiện hữu?”.

Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Sanh y lấy ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh, lấy ái làm hiện hữu. Do ái có mặt, sanh y hiện hữu. Do ái không có mặt, sanh y không hiện hữu”.

 Vị ấy biết sanh y, biết sanh y tập khởi, biết sanh y đoạn diệt, và biết con đường thích ứng đưa đến sanh y đoạn diệt. Do thực hành như vậy, vị ấy được gọi là tùy pháp hành.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã chơn chánh thực hành để tận diệt đau khổ và đoạn diệt sanh y một cách hoàn toàn.

 

11-16) “Then, engaging further in inward exploration, he explores thus: ‘When this craving arises, where does it arise? When it settles down, upon what does it settle?’ “As he explores he understands thus: ‘Whatever in the world has a pleasant and agreeable nature: it is here that this craving arises when it arises; it is here that it settles when it settles down.’ And what in the world has a pleasant and agreeable nature? The eye has a pleasant and agreeable nature in the world: it is here that this craving arises when it arises; it is here that it settles when it settles down. So too the ear, the nose, the tongue, the body, and the mind have a pleasant and agreeable nature: it is here that this craving arises when it arises; it is here that it settles when it settles down.

11) Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau: “Nhưng ái này, khởi lên tại chỗ nào được khởi lên, an trú tại chỗ nào được an trú?”. Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: “Tất cả những gì ở đời khả ái, hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an trú”.

12) … Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn…

13) … Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn…

14) … Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn…

15) … Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn…

16) … Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.

 

17) “Bhikkhus, whatever ascetics and brahmins in the past regarded that in the world with a pleasant and agreeable nature as permanent, as happiness, as self, as healthy, as secure: they nurtured craving. In nurturing craving they nurtured acquisition. In nurturing acquisition they nurtured suffering.

18) In nurturing suffering they were not freed from birth, aging, and death; they were not freed from sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair; they were not freed from suffering, I say.

17) Này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, thấy là tự ngã, những người ấy làm ái tăng trưởng.

18) Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.

 

19) “Whatever ascetics and brahmins in the future will regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as permanent, as happiness, as self, as healthy, as secure: they will nurture craving. In nurturing craving they will nurture acquisition.

20) In nurturing acquisition they will nurture suffering. In nurturing suffering they will not be freed from birth, aging, and death; they will not be freed from sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair; they will not be freed from suffering, I say.

19) Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy sẽ làm ái tăng trưởng.

20) Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy sẽ làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy sẽ làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không có thể giải thoát khỏi đau khổ.

 

21) “Whatever ascetics and brahmins at present regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as permanent, as happiness, as self, as healthy, as secure: they are nurturing craving.

22) In nurturing craving they are nurturing acquisition. In nurturing acquisition they are nurturing suffering. In nurturing suffering they are not freed from birth, aging, and death; they are not freed from sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair; they are not freed from suffering, I say.

21) Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.

22) Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.

 

23) “Suppose, bhikkhus, there was a bronze cup of a beverage having a fine colour, aroma, and taste, but it was mixed with poison. Then a man would come along, oppressed and afflicted by the heat, tired, parched, and thirsty. They would tell him: ‘Good man, this beverage in the bronze cup has a fine colour, aroma, and taste, but it is mixed with poison. Drink it if you wish. If you drink it, it will gratify you with its colour, aroma, and taste, but by drinking it you will meet death or deadly suffering.’ Suddenly, without reflecting, he would drink the beverage—he would not reject it—and thereby he would meet death or deadly suffering.

24-32) “So too, bhikkhus, whatever ascetics and brahmins in the past … in the future … at present regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as permanent, as happiness, as self, as healthy, as secure: they are nurturing craving. In nurturing craving … they are not freed from suffering, I say.

“Bhikkhus, whatever ascetics and brahmins in the past regarded that in the world with a pleasant and agreeable nature as impermanent, as suffering, as nonself, as a disease, as fearful: they abandoned craving. In abandoning craving they abandoned acquisition. In abandoning acquisition they abandoned suffering. In abandoning suffering they were freed from birth, aging, and death; they were freed from sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair; they were freed from suffering, I say.

“Whatever ascetics and brahmins in the future will regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as impermanent, as suffering, as nonself, as a disease, as fearful: they will abandon craving. In abandoning craving … they will be freed from suffering, I say.

“Whatever ascetics and brahmins at present regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as impermanent, as suffering, as nonself, as a disease, as fearful: they are abandoning craving. In abandoning craving … they are freed from suffering, I say.

23) Này các Tỷ-kheo, ví như một bình bằng đồng, đựng nước uống có sắc, có hương, có vị và nước uống ấy có pha thuốc độc. Rồi một người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước và có những người nói với người ấy như sau: “Này Bạn, bình đồng đựng nước uống này, có sắc, có hương, có vị, và bình nước uống ấy có pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy, Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”. Người kia có thể uống bình nước bằng đồng ấy một cách hấp tấp không suy nghĩ, không từ bỏ. Người kia do nhân duyên ấy, có thể đi đến chết hay đau khổ gần như chết.

24) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn, phàm vật gì khả ái hấp dẫn ở đời…

25) … Những ai trong tương lai…

26) Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn, thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.

27) Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không thể giải thoát khỏi đau khổ.

28) Và này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy từ bỏ ái.

Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy đã được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ đã giải thoát khỏi đau khổ.

29) Và này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, những người ấy sẽ từ bỏ ái.

30) Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y… Ta nói họ có thể giải thoát khỏi đau khổ.

31) Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.

32) Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải thoát khỏi đau khổ.

 

33-40) “Suppose, bhikkhus, there was a bronze cup of a beverage having a fine colour, aroma, and taste, but it was mixed with poison. Then a man would come along, oppressed and afflicted by the heat, tired, parched, and thirsty. They would tell him: ‘Good man, this beverage in the bronze cup has a fine colour, aroma, and taste, but it is mixed with poison. Drink it if you wish. If you drink it, it will gratify you with its colour, aroma, and taste, but by drinking it you will meet death or deadly suffering. ’ Then the man would think: ‘I can quench my thirst with water, whey, porridge, or soup, but I should not drink that beverage, since to do so would lead to my harm and suffering for a long time.’ Having reflected, he would not drink the beverage but would reject it, and thereby he would not meet death or deadly suffering.

 

“So too, bhikkhus, whatever ascetics and brahmins in the past … in the future … at present regard that in the world with a pleasant and agreeable nature as impermanent, as suffering, as nonself, as a disease, as fearful: they are abandoning craving. In abandoning craving … they are freed from suffering, I say.”

33) Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc, có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy : “Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương, có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết”.

34) Và này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: “Ở đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu, hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô), hay nhiếp phục với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ lâu dài”. Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.

35) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong thời quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là đau khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ đoạn trừ ái.

36) Những ai đoạn trừ ái, những người ấy đoạn trừ sanh y. Những ai đoạn trừ sanh y, những người ấy đoạn trừ đau khổ. Những ai đoạn trừ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ được giải thoát khỏi đau khổ.

37-38) Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai…

39) Những ai trong thời hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.

40) Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ bỏ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ được giải thoát khỏi đau khổ.

 

67 (7) The Sheaves of Reeds – Bó Lau

 

1) On one occasion the Venerable Sāriputta and the Venerable Mahākoṭṭhita were dwelling at Bārāṇası̄ in the Deer Park at Isipatana.

2) Then, in the evening, the Venerable Mahākoṭṭhita emerged from seclusion and approached the Venerable Sāriputta. He exchanged greetings with the Venerable Sāriputta and, when they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him:

3) — “How is it, friend Sāriputta: Is aging-and-death created by oneself, or is it created by another, or is it created both by oneself and by another, or has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another?”

4)– “Friend Koṭṭhita, aging-and-death is not created by oneself, nor is it created by another, nor is it created both by oneself and by another, nor has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another. But rather, with birth as condition, aging-and-death [comes to be].”

1) Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahàkotthita trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ) ở Migàdàya (rừng nai).

2) Rồi Tôn giả Mahàkotthita, vào buổi chiều từ chỗ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, bèn ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả Sàriputta:

— Này Hiền giả Sàriputta, già chết do tự mình tạo ra, già chết do người khác tạo ra, già chết do tự mình và do người khác tạo ra, hay già chết không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, do tự nhiên sanh?

4) — Này Hiền giả Kotthita, già chết không do tự mình tạo ra, già chết không do người khác tạo ra, già chết không do tự mình tạo ra và người khác tạo ra, già chết cũng không phải không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, không do tự nhiên sanh. Già chết do duyên sanh.

 

5-22) — “How is it, friend Sāriputta: Is birth created by oneself… Is existence … clinging … craving … feeling … contact … the six sense bases … name-and-form created by oneself, or is it created by another, or is it created both by oneself and by another, or has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another?”

“Name-and-form, friend Koṭṭhita, is not created by oneself, nor is it created by another, nor is it created both by oneself and by another, nor has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another; but rather, with consciousness as condition, name-and-form [comes to be].”

“How is it, friend Sāriputta: Is consciousness created by oneself, or is it created by another, or is it created both by oneself and by another, or has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another?”

5) — Này Hiền giả Sàriputta, có phải sanh do tự mình làm ra, sanh do người khác làm ra, sanh do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay sanh không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?

6) — Này Hiền giả Kotthita, sanh không do tự mình làm ra, sanh không do người khác làm ra, sanh không do tự mình làm ra và người khác làm ra, hay sanh cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, cũng không do tự nhiên sanh. Sanh do duyên hữu.

7-18) — Này Hiền giả Sàriputta, hữu có phải do tự mình làm ra… thủ có phải do tự mình làm ra… ái có phải do tự mình làm ra… thọ có phải do tự mình làm ra… xúc có phải do tự mình làm ra… sáu xứ có phải do tự mình làm ra…

19) … Danh sắc có phải do tự mình làm ra, danh sắc có phải do người khác làm ra, danh sắc có phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc có phải không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?

20) — Này Hiền giả Kotthita, danh sắc không phải do tự mình làm ra, danh sắc không phải do người khác làm ra, danh sắc không phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức.

21) — Này Hiền giả Sàriputta, có phải thức do tự mình làm ra, thức do người khác làm ra, thức do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay có phải thức không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?

22) — Này Hiền giả Kotthita, thức không do tự mình làm ra, thức không do người khác làm ra, thức không do tự mình làm ra và không do người khác làm ra, hay thức cũng không phải không do tự mình làm ra và không phải không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc.

 

23) “Consciousness, friend Koṭṭhita, is not created by oneself, nor is it created by another, nor is it created both by oneself and by another, nor has it arisen fortuitously, being created neither by oneself nor by another; but rather, with name-and-form as condition, consciousness [comes to be].”

24) “Now we understand the Venerable Sāriputta’s statement thus: ‘Name-and-form, friend Koṭṭhita, is not created by oneself … but rather, with consciousness as condition, name-and-form [comes to be].’ Now we also understand the Venerable Sāriputta’s [other] statement thus: ‘Consciousness, friend Koṭṭhita, is not created by oneself … but rather, with name-and-form as condition, consciousness [comes to be].’

25) But how, friend Sāriputta, should the meaning of this statement be seen?”

— “Well then, friend, I will make up a simile for you, for some intelligent people here understand the meaning of a statement by means of a simile.

26) Just as two sheaves of reeds might stand leaning against each other. So too, with name-and-form as condition, consciousness [comes to be]; with consciousness as condition, name-and-form [comes to be]. With name-and-form as condition, the six sense bases [come to be]; with the six sense bases as condition, contact…. Such is the origin of this whole mass of suffering.

“If, friend, one were to remove one of those sheaves of reeds, the other would fall, and if one were to remove the other sheaf, the first would fall. So too, with the cessation of name-and-form comes cessation of consciousness; with the cessation of consciousness comes cessation of name-and-form. With the cessation of name-and-form comes cessation of the six sense bases; with the cessation of the six sense bases, cessation of contact…. Such is the cessation of this whole mass of suffering.”

27) — “It is wonderful, friend Sāriputta! It is amazing, friend Sāriputta! How well this has been stated by the Venerable Sāriputta. We rejoice in the Venerable

Sāriputta’s statement on these thirty-six grounds: If, friend, a bhikkhu teaches the Dhamma for the purpose of revulsion towards aging-and-death, for its fading away and cessation, he can be called a bhikkhu who is a speaker on the Dhamma. If a bhikkhu is practising for the purpose of revulsion towards aging-and-death, for its fading away and cessation, he can be called a bhikkhu who is practising in accordance with the Dhamma. If through revulsion towards aging-and-death, through its fading away and cessation, a bhikkhu is liberated by nonclinging, he can be called a bhikkhu who has attained Nibbāna in this very life.

28) “If, friend, a bhikkhu teaches the Dhamma for the purpose of revulsion towards birth … existence … clinging … craving … feeling … contact … the six sense bases … name-and-form … consciousness … volitional formations … ignorance, for its fading away and cessation, he can be called a bhikkhu who is a speaker on the Dhamma. If a bhikkhu is practising for the purpose of revulsion towards ignorance, for its fading away and cessation, he can be called a bhikkhu who is practising in accordance with the Dhamma. If through revulsion towards ignorance, through its fading away and cessation, a bhikkhu is liberated by nonclinging, he can be called a bhikkhu who has attained Nibbāna in this very life.”

25) Này Hiền giả Sàriputta, cần phải hiểu như thế nào ý nghĩa lời nói này?

— Vậy này Hiền giả, tôi sẽ nêu một ví dụ. Nhờ có ví dụ, người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói.

26) Ví như hai bó lau dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này Hiền giả, do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, xúc sanh khởi… (như trên)… Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Này Hiền giả, nếu một bó lau được kéo qua một bên, bó lau kia liền rơi xuống. Nếu bó lau kia được kéo qua một bên, bó lau này được rơi xuống. Cũng vậy, này Hiền giả, do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt… (như trên)… như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.

27) — Thật vi diệu thay, Hiền giả Sàriputta! Thật hy hữu thay, Hiền giả Sàriputta! Lời nói khéo nói này của Hiền giả Sàriputta và lời nói với ba mươi sáu sự này của Hiền giả Sàriputta, chúng tôi xin tùy hỷ.

28) — Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết pháp để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt già chết, thời đủ để được gọi là vị Tỷ-kheo thuyết pháp. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, già chết, thời đủ để được gọi là Tỷ-kheo tùy pháp hành. Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, vô minh được giải thoát, không có chấp thủ, thời đủ để được gọi vị Tỷ-kheo đã đạt được hiện tại Niết-bàn.

 

  • 8) Kosambı̄ – Kosambi

 

1) On one occasion the Venerable Musı̄la, the Venerable Saviṭṭha, the Venerable Nārada, and the Venerable Ānanda were living at Kosambı̄ in Ghosita’s Park. 

 

I

 

2) Then the Venerable Saviṭṭha said to the Venerable Musı̄la:

— “Friend Musı̄la, apart from faith, apart from personal preference, apart from oral tradition, apart from reasoned reflection, apart from acceptance of a view after pondering it,198 does the Venerable Musı̄la have personal knowledge thus: ‘With birth as condition, agingand-death [comes to be]’?”

3)  — “Friend Saviṭṭha, apart from faith, apart from personal preference, apart from oral tradition, apart from reasoned reflection, apart from acceptance of a view after pondering it, I know this, I see this: ‘With birth as condition, aging-and-death [comes to be].’”

4) — “Friend Musı̄la, apart from faith … apart from acceptance of a view after pondering it, does the Venerable Musı̄la have personal knowledge thus: ‘With existence as condition, birth’?… ‘With ignorance as condition, volitional formations’?”

4) — Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết được: “Do duyên hữu, nên sanh sinh khởi… (như trên)…

5) … “Do duyên thủ nên hữu sanh khởi”.

6) … “Do duyên ái nên thủ sanh khởi”.

7) … “Do duyên thọ nên ái sanh khởi”.

8) … “Do duyên xúc nên thọ sanh khởi”.

9) … “Do duyên sáu xứ nên xúc sanh khởi”.

10) … “Do duyên danh sắc nên sáu xứ sanh khởi”.

11) … “Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi”.

12) … “Do duyên hành nên thức sanh khởi”.

13) … “Do duyên vô minh nên hành sanh khởi”.

 

14) — “Friend Saviṭṭha, apart from faith … apart from acceptance of a view after pondering it, I know this, I see this: ‘With ignorance as condition, volitional formations.’” “Friend Musı̄la, apart from faith … apart from acceptance of a view after pondering it, does the Venerable Musı̄la have personal knowledge: ‘With the cessation of birth comes cessation of aging-and-death’? … ‘With the cessation of ignorance comes cessation of volitional formations’?” “Friend Saviṭṭha, apart from faith …. apart from acceptance of a view after pondering it, I know this, I see this: ‘With the cessation of birth comes cessation of aging-and-death.’… ‘With the cessation of ignorance comes cessation of volitional formations.’”

14) — Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết được, tôi thấy được: “Do duyên vô minh, các hành sanh khởi”.

15) — Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài sự thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết như sau: “Do sanh diệt, nên già chết diệt”?

16) — Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do sanh diệt, nên già chết diệt”.

17) — Này Hiền giả Musàa, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết như sau: “Do hữu diệt, nên sanh diệt”.

18-24)… “Do thủ diệt, nên hữu diệt… Do ái diệt, nên thủ diệt… Do thọ diệt, nên ái diệt… Do xúc diệt nên thọ diệt… Do sáu xứ diệt, nên xúc diệt… Do danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt… Do thức diệt, nên danh sắc diệt… Do hành diệt, nên thức diệt… Do vô minh diệt, nên hành diệt”.

25) — Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do vô minh diệt, nên hành diệt”

 

 26) — “Friend Musı̄la, apart from faith, apart from personal preference, apart from oral tradition, apart from reasoned reflection, apart from acceptance of a view after pondering it, does the Venerable Musı̄la have personal knowledge thus: ‘Nibbāna is the cessation of existence’?”

27) — “Friend Saviṭṭha, apart from faith, apart from personal preference, apart from oral tradition, apart from reasoned reflection, apart from acceptance of a view after pondering it, I know this, I see this: ‘Nibbāna is the cessation of existence.’”

28) — “Then the Venerable Musı̄la is an arahant, one whose taints are destroyed.”

29) When this was said, the Venerable Musı̄la kept silent.

26) — Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có trí biết như sau: ” Do hữu diệt là Niết-bàn”?

27) — Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do hữu diệt là Niết-bàn”.

28) — Như vậy, Tôn giả Musìla là bậc A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc?.

29) Khi nghe nói vậy, Tôn giả Musìla giữ im lặng.

 

                        II

 

30) — Then the Venerable Nārada said to the Venerable Saviṭṭha:

— “Friend Saviṭṭha, it would be good if I were asked that series of questions. Ask me that series of questions and I will answer you.”

31) — “Then let the Venerable Nārada get to answer that series of questions. I will ask the Venerable Nārada that series of questions, and let him answer me.”

30) Rồi Tôn giả Nàrada nói với Tôn giả Sàvittha:

— Này Hiền giả Sàvittha, lành thay nếu tôi được hỏi câu này. Hãy hỏi tôi câu hỏi này, và tôi sẽ trả lời cho Hiền giả câu hỏi này.

31) — Tôn giả Nàrada hãy lấy câu hỏi này. Tôi sẽ hỏi Tôn giả Nàrada câu hỏi này. Và Tôn giả Nàrada hãy trả lời cho tôi câu hỏi này.

 

32-57) (Here the Venerable Saviṭṭha asks the Venerable Nārada the same series of questions as were addressed to the Venerable Musı̄la, and he answers in exactly the same way.)

32-57)… — Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin… tôi biết như sau, tôi thấy như sau: “Do hữu diệt là Niết-bàn”.

 

58) — “Then the Venerable Nārada is an arahant, one whose taints are destroyed.”

59) — “Friend, though I have clearly seen as it really is with correct wisdom, ‘Nibbāna is the cessation of existence. I am not an arahant, one whose taints are destroyed.

60) Suppose, friend, there was a well along a desert road, but it had neither a rope nor a bucket. Then a man would come along, oppressed and afflicted by the heat, tired, parched, and thirsty. He would look down into the well and the knowledge would occur to him, ‘There is water,’ but he would not be able to make bodily contact with it.

61) So too, friend, though I have clearly seen as it really is with correct wisdom, ‘Nibbāna is the cessation of existence,’ I am not an arahant, one whose taints are destroyed.”

58) — Như vậy, Tôn giả Nàrada là bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc?

59) — Này Hiền giả, “Do hữu diệt là Niết-bàn”, tôi khéo thấy như chơn nhờ chánh trí tuệ. Nhưng tôi không phải là vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.

60) Ví như trên một con đường hoang vắng có một giếng nước. Tại đấy không có dây, không có gàu nước. Rồi có người đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước. Người ấy ngó xuống giếng và biết được: “Giếng này có nước”, nhưng đứng chịu, thân thể không chạm nước.

61) Cũng vậy, này Hiền giả, “Hữu diệt là Niết-bàn”, tôi khéo thấy như chơn nhờ chánh trí tuệ, nhưng tôi không phải là vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.

 

II

 

62) When this was said, the Venerable Ānanda asked the Venerable Saviṭṭha:

— “When he speaks in such a way, friend Saviṭṭha, what would you say about the Venerable Nārada?” 

63) — “When he speaks in such a way, friend Ānanda, I would not say anything about the Venerable Nārada except what is good and favourable.”

 

69 (9) The Surge – Nước Thủy Triều Dâng

 

1) Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthı̄ in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park.

2) There the Blessed One said:

3) — “Bhikkhus, the ocean surging causes the rivers to surge; the rivers surging cause the streams to surge; the streams surging cause the lakes to surge; the lakes surging cause the pools to surge.

4) So too, ignorance surging causes volitional formations to surge; volitional formations surging cause consciousness to surge; consciousness surging causes name-and-form to surge; name-and-form surging causes the six sense bases to surge; the six sense bases surging cause contact to surge; contact surging causes feeling to surge; feeling surging causes craving to surge; craving surging causes clinging to surge; clinging surging causes existence to surge; existence surging causes birth to surge; birth surging causes aging-and-death to surge.

5) “Bhikkhus, the ocean receding causes the rivers to recede; the rivers receding cause the streams to recede; the streams receding cause the lakes to recede; the lakes receding cause the pools to recede.

6) So too, ignorance receding causes volitional formations to recede; volitional formations receding cause consciousness to recede …birth receding causes aging-and-death to recede.”

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong vườn ông Anàthapindika.

2) Tại đây…

3) — Này các Tỷ-kheo, khi nào biển lớn dâng lên thời các sông lớn dâng lên; khi nào các sông lớn dâng lên thời các sông nhỏ dâng lên; khi nào các sông nhỏ dâng lên thời các hồ lớn dâng lên; khi nào các hồ lớn dâng lên thời các hồ nhỏ dâng lên.

4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào vô minh dâng lên thời các hành dâng lên; khi nào các hành dâng lên thời thức dâng lên; khi nào thức dâng lên thời danh sắc dâng lên; khi nào danh sắc dâng lên thời sáu xứ dâng lên; khi nào sáu xứ dâng lên thời xúc dâng lên; khi nào xúc dâng lên thời thọ dâng lên; khi nào thọ dâng lên thời ái dâng lên; khi nào ái dâng lên thời thủ dâng lên; khi nào thủ dâng lên thời hữu dâng lên; khi nào hữu dâng lên thời sanh dâng lên; khi nào sanh dâng lên thời già chết dâng lên.

5) Này các Tỷ-kheo, biển lớn không dâng lên thời sông lớn không dâng lên; sông lớn không dâng lên thời sông nhỏ không dâng lên; sông nhỏ không dâng lên thời hồ lớn không dâng lên; hồ lớn không dâng lên thời hồ nhỏ không dâng lên.

6) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh không dâng lên thời các hành không dâng lên; các hành không dâng lên thời thức không dâng lên; thức không dâng lên thời danh sắc không dâng lên; danh sắc không dâng lên thời sáu xứ không dâng lên; sáu xứ không dâng lên thời xúc không dâng lên; xúc không dâng lên thời thọ không dâng lên; thọ không dâng lên thời ái không dâng lên; ái không dâng lên thời thủ không dâng lên; thủ không dâng lên thời hữu không dâng lên; hữu không dâng lên thời sanh không dâng lên; sanh không dâng lên thời già chết không dâng lên.

  

70 (10) Susı̄ ma – Susìma

 

1) Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was dwelling at Rājagaha in the Bamboo Grove, the Squirrel Sanctuary.

1) Như vậy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng con sóc.

 

 I

 

2) Now on that occasion the Blessed One was honoured, respected, esteemed, venerated, and revered, and he obtained robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites.

3) The Bhikkhu Saṅgha too was honoured, respected, esteemed, venerated, and revered, and the bhikkhus too obtained robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites.

4) But the wanderers of other sects were not honoured, respected, esteemed, venerated, and revered, and they did not obtain robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites.

2) Lúc bấy giờ Thế Tôn được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và Ngài nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.

3) Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và cũng nhận được các vật cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.

4) Nhưng các du sĩ ngoại đạo không được cung kính, không được tôn trọng, không được kính lễ, không được cúng dường, không được tôn sùng và cũng không nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.

 

II

 

5) Now on that occasion the wanderer Susı̄ma was residing in Rājagaha along with a large company of wanderers.

6) Then his company said to the wanderer Susı̄ma:

— “Come, friend Susı̄ma, lead the holy life under the ascetic Gotama. Master his Dhamma and teach it to us. We will master his Dhamma and preach it to the lay people. Thus we too will be honoured, respected, esteemed, venerated, and revered, and we too will obtain robes, almsfood, lodgings, and medicinal requisites.”

7) “All right, friends,” the wanderer Susı̄ma replied.

He then approached the Venerable Ānanda and exchanged greetings with him. When they had concluded their greetings and cordial talk, he sat down to one side and said to him:

5) Lúc bấy giờ du sĩ Susìma trú ở Ràjagaha cùng với đại chúng du sĩ.

6) Rồi hội chúng du sĩ của Susìma nói với du sĩ Susìma:

— Thưa Hiền giả Susìma, ngài hãy đi đến và sống Phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama. Sau khi ngài học Chánh pháp xong hãy nói lại cho chúng tôi. Sau khi chúng tôi học pháp ấy chúng tôi sẽ nói lại với các gia chủ. Như vậy chúng tôi sẽ được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và chúng tôi sẽ nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.

7) — Thưa vâng, các Hiền giả.

Du sĩ Susìma nghe theo hội chúng của mình, liền đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Tôn giả Ananda; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

 

III

 

8) “Friend Ānanda, I wish to lead the holy life in this Dhamma and Discipline.”

9) Then the Venerable Ānanda took the wanderer Susı̄ma and approached the Blessed One.

10) He paid homage to the Blessed One, and then he sat down to one side and said to him:

— “Venerable sir, this wanderer Susı̄ma says that he wishes to lead the holy life in this Dhamma and Discipline.” 

11) — “Well then, Ānanda, give him the going forth.”

12) The wanderer Susı̄ma then received the going forth and the higher ordination under the Blessed One.

13) Now on that occasion a number of bhikkhus had declared final knowledge in the presence of the Blessed One, saying: “We understand: Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.”

8) Ngồi xuống một bên, du sĩ Susìma nói với Tôn giả Ananda:

— Này Hiền giả Ananda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này.

9) Rồi Tôn giả Ananda đưa du sĩ Susìma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

10) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

— Bạch Thế Tôn, du sĩ Susìma này nói như sau: “Này Hiền giả Ananda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này”.

11) — Vậy Ananda, hãy cho Susìma xuất gia.

12) Và du sĩ Susìma được xuất gia dưới sự chỉ đạo của Thế Tôn và được thọ đại giới.

13) Lúc bấy giờ nhiều vị Tỷ-kheo ở trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng tôi biết rõ rằng: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.’ “

 

IV

 

14-16) The Venerable Susı̄ma heard about this, [121] so he approached those bhikkhus, exchanged greetings with them, and then sat down to one side and said to them: “Is it true that you venerable ones have declared final knowledge in the presence of the Blessed One, saying: ‘We understand: Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being’?”

–“Yes, friend.”

17) — “Then knowing and seeing thus, do you venerable ones wield the various kinds of spiritual power, such that: having been one, you become many; having been many, you become one; you appear and vanish; you go unhindered through a wall, through a rampart, through a mountain as though through space; you dive in and out of the earth as though it were water; you walk on water without sinking as though it were earth; seated crosslegged, you travel in space like a bird; with your hand you touch and stroke the moon and sun so powerful and mighty; you exercise mastery with the body as far as the brahmā world?”

— “No, friend.”

18) — “Then knowing and seeing thus, do you venerable ones, with the divine ear element, which is purified and surpasses the human, hear both kinds of sounds, the divine and human, those that are far as well as near?”

— “No, friend.”

19) — “Then knowing and seeing thus, do you venerable ones understand the minds of other beings and persons, having encompassed them with your own minds? Do you understand a mind with lust as a mind with lust; a mind without lust as a mind without lust; a mind with hatred as a mind with hatred; a mind without hatred as a mind without hatred; a mind with delusion as a mind with delusion; a mind without delusion as a mind without delusion; a contracted mind as contracted and a distracted mind as distracted; an exalted mind as exalted and an unexalted mind as unexalted; a surpassable mind as surpassable and an unsurpassable mind as unsurpassable; a concentrated mind as concentrated and an unconcentrated mind as unconcentrated; a liberated mind as liberated and an unliberated mind as unliberated?”

— “No, friend.”

14) Tôn giả Susìma được nghe: Nhiều Tỷ-kheo trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng tôi biết rõ rằng: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'”

15) Rồi Tôn giả Susìma đi đến các Tỷ-kheo; sau khi đến nói lên với những Tỷ-kheo ấy những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.

16) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susìma nói với các Tỷ-kheo ấy:

— Có đúng sự thật chăng, chư Tôn giả ở trước mặt Thế Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: “Chúng con biết rõ rằng: ‘Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'”?

— Thưa có vậy, này Hiền giả.

17) — Nhưng, chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy chắc chứng được nhiều loại thần thông khác nhau: Một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ vào mặt trăng và mặt trời, những vật có oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho đến cõi Phạm thiên?

— Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

18) — Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, chứng được thiên nhĩ thông thanh tịnh siêu nhân, có thể nghe hai loại tiếng: chư Thiên và loài Người, xa và gần?

— Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

19) — Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, với tâm của mình biết được tâm của các chúng sanh khác, các loài Người khác: Tâm có tham biết là tâm có tham; tâm không tham biết là tâm không tham; tâm có sân biết là tâm có sân; tâm không sân biết là tâm không sân; tâm có si biết là tâm có si; tâm không si biết là tâm không si; tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú; tâm tán loạn biết là tâm tán loạn. Ðại hành tâm biết là đại hành tâm; không phải đại hành tâm biết không phải là đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm vô thượng. Tâm Thiền định biết là tâm Thiền định; tâm không Thiền định biết là tâm không Thiền định. Tâm giải thoát biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát?

— Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

 

20)– “Then knowing and seeing thus, do you venerable ones recollect your manifold past abodes, that is, one birth, two births, three births, four births, five births, ten births, twenty births, thirty births, forty births, fifty births, a hundred births, a thousand births, a hundred thousand births, many aeons of world-contraction, many aeons of world-expansion, many aeons of world-contraction and expansion thus: ‘There I was so named, of such a clan, with such an appearance, such was my food, such my experience of pleasure and pain, such my life span; passing away from there, I was reborn elsewhere, and there too I was so named, of such a clan, with such an appearance, such was my food, such my experience of pleasure and pain, such my life span; passing away from there, I was reborn here’? Do you thus recollect your manifold past abodes with their modes and details?”

— “No, friend.”

21) — “Then knowing and seeing thus, do you venerable ones, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, see beings passing away and being reborn, inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate, and understand how beings fare on in accordance with their kamma thus: ‘These beings who engaged in misconduct of body, [123] speech, and mind, who reviled the noble ones, held wrong view, and undertook actions based on wrong view, with the breakup of the body, after death, have been reborn in a state of misery, in a bad destination, in the nether world, in hell; but these beings who engaged in good conduct of body, speech, and mind, who did not revile the noble ones, who held right view, and undertook action based on right view, with the breakup of the body, after death, have been reborn in a good destination, in a heavenly world’? Thus with the divine eye, which is purified and surpasses the human, do you see beings passing away and being reborn, inferior and superior, beautiful and ugly, fortunate and unfortunate, and understand how beings fare on in accordance with their kamma?”

— “No, friend.”

22) — “Then knowing and seeing thus, do you venerable ones dwell in those peaceful deliverances that transcend forms, the formless attainments, having touched them with the body?”

— “No, friend.”

23-24) — “Here now, venerable ones: this answer and the nonattainment of those states, how could this be, friends?”

25) “We are liberated by wisdom, friend Susı̄ma.”

26) — “I do not understand in detail, friends, the meaning of what has been stated in brief by the venerable ones. It would be good if the venerable ones would explain to me in such a way that I could understand in detail what has been stated in brief.”

27) — “Whether or not you understand, friend Susı̄ma, we are liberated by wisdom.”

20) — Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, nhớ được nhiều đời quá khứ. Như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: “Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây”. Như vậy, chư Tôn giả nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết?

— Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

21) — Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Chư Tôn giả biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, làm những ác hạnh về lời nói, những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những thiện hạnh về thân, làm những thiện hạnh về lời nói, làm những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, các vị thấy sự sống chết của chúng sanh. Các vị biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ?

— Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

22) — Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy, sau khi vượt khỏi Sắc giới, thân cảm xúc Vô sắc giới, an trú vào tịch tịnh giải thoát?

— Thưa không phải vậy, này Hiền giả.

23) — Hay ở đây, có phải chư Tôn giả vừa trả lời như vậy, vừa không chứng được các pháp này?

24) –Này Hiền giả, không có chứng được gì.

25) — Như thế nào?

— Thưa Hiền giả Susìma, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.

26) — Tôi không biết được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư Tôn giả. Lành thay nếu được chư Tôn giả nói lên cho tôi, để tôi có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư Tôn giả!

27) — Này Hiền giả Susìma, dù cho Ông có biết hay Ông không biết, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.

 

V

 

28-29) Then the Venerable Susı̄ma rose from his seat and approached the Blessed One. Having approached, he paid homage to the Blessed One, sat down to one side, and reported to the Blessed One the entire conversation he had had with those bhikkhus. [The Blessed One said:]

30) — “First, Susı̄ma, comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.”

31) — “I do not understand in detail, venerable sir, the meaning of what was stated in brief by the Blessed One. It would be good if the Blessed One would explain to me in such a way that I could understand in detail what has been stated in brief.”

32) –“Whether or not you understand, Susı̄ma, first comes knowledge of the stability of the Dhamma, afterwards knowledge of Nibbāna.

— “What do you think, Susı̄ma, is form permanent or impermanent?”

— “Impermanent, venerable sir.”

33) — “Is what is impermanent suffering or happiness?”

— “Suffering, venerable sir.”

— “Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?”

— “No, venerable sir.”

28) Rồi Tôn giả Susìma từ chỗ ngồi đứng dậy và đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

29) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susìma trình bày lên Thế Tôn tất cả câu chuyện với các Tỷ-kheo ấy.

30) — Này Susìma, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn.

31) — Bạch Thế Tôn, con không hiểu được ý nghĩa một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, lành thay nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn!

32) — Này Susìma, dù cho Ông có biết hay Ông không có biết, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn. Này Susìma, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?

— Là vô thường, bạch Thế Tôn?

33) — Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

— Là khổ, bạch Thế Tôn.

— Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi chúng ta quán vật ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

— Thưa không, bạch Thế Tôn.

 

34-38) “Is feeling permanent or impermanent?… Is perception permanent or impermanent?… Are volitional formations permanent or impermanent?… Is consciousness permanent or impermanent?” [125]–“Impermanent, venerable sir.”–“Is what is impermanent suffering or happiness?”–“Suffering, venerable sir.”–“Is what is impermanent, suffering, and subject to change fit to be regarded thus: ‘This is mine, this I am, this is my self’?”–“No, venerable sir.”

38) “Therefore, Susı̄ma, any kind of form whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near, all form should be seen as it really is with correct wisdom thus:

‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’

 34) — Thọ là thường hay vô thường?

— Vô thường, bạch Thế Tôn.

35) — Tưởng là thường hay vô thường?

— Vô thường, bạch Thế Tôn.

36) — Các hành là thường hay vô thường?

— Vô thường, bạch Thế Tôn.

37) — Thức là thường hay vô thường?

— Vô thường, bạch Thế Tôn.

— Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

— Là khổ, bạch Thế Tôn.

— Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu chúng ta quán vật ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?

— Thưa không, bạch Thế Tôn.

38) — Do vậy, này Susìma, cái gì thuộc sắc pháp quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả sắc pháp cần phải được quán như chơn như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

39-42) “Any kind of feeling whatsoever … Any kind of perception whatsoever … Any kind of volitional formations whatsoever … Any kind of consciousness whatsoever, whether past, future, or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near, all consciousness should be seen as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’

39) Cái gì thuộc thọ quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…

40) Cái gì thuộc tưởng quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…

41) Cái gì thuộc hành quá khứ, vị lai hay hiện tại… (như trên)…

42) Cái gì thuộc thức quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức cần phải quán như chơn với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.

 

43) “Seeing thus, Susı̄ma, the instructed noble disciple experiences revulsion towards form, revulsion towards feeling, revulsion towards perception, revulsion towards volitional formations, revulsion towards consciousness. Experiencing revulsion, he becomes dispassionate. Through dispassion [his mind] is liberated. When it is liberated there comes the knowledge: ‘It’s liberated. ’ He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’

                        “Do you see, Susı̄ma: ‘With birth as condition, agingand-death [comes to be]’?”

“Yes, venerable sir.”

44-47) “Do you see, Susı̄ma:

45) ‘With existence as condition, birth’?… ‘With clinging as condition, existence’?… [126] … ‘With craving as condition, clinging’?… ‘With feeling as condition, craving’?… ‘With contact as condition, feeling’?… ‘With the six sense bases as condition, contact’?… ‘With name-and-form as condition, the six sense bases’?… ‘With consciousness as condition, name-and-form’? … ‘With volitional formations as condition, consciousness’? … ‘With ignorance as condition, volitional formations [come to be]’?”

“Yes, venerable sir.”

43) Này Susìma, thấy như vậy, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết rằng: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Này Susìma, Ông có thấy chăng: “Do duyên sanh, già chết sanh khởi”?

— Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

44) …

45) — “Do duyên thủ, hữu sanh khởi?” Này Susìma, Ông có thấy chăng?

— Thưa có, bạch Thế Tôn.

46) — Này Susìma, Ông có thấy chăng: “Do duyên ái, thủ sanh khởi”?

— Thưa có, bạch Thế Tôn.

47) — “Do duyên thọ, ái sanh khởi. Do duyên xúc, thọ sanh khởi. Do duyên sáu xứ, thọ sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc sanh khởi. Do duyên hành thức sanh khởi. Do duyên vô minh, hành sanh khởi”. Này Susìma, Ông có thấy chăng?

— Thưa có, bạch Thế Tôn.

 

48) — “Do you see, Susı̄ma: ‘With the cessation of birth comes cessation of aging-and-death’?”

— “Yes, venerable sir.”

49) — “Do you see, Susı̄ma: ‘With the cessation of existence comes cessation of birth’?… ‘With the cessation of clinging comes cessation of existence’?… ‘With the cessation of ignorance comes cessation of volitional formations’?”

— “Yes, venerable sir.”

51) — “Knowing and seeing thus, Susı̄ma, do you wield the various kinds of spiritual power, such that: having been one, you become many … and exercise bodily mastery as far as the brahmā world?”

“No, venerable sir.”

48) — “Do sanh diệt, già chết diệt”, này Susìma, Ông có thấy chăng?

— Thưa có, bạch Thế Tôn.

49) — “Do hữu diệt, nên sanh diệt”, này Susìma, Ông có thấy chăng?

— Thưa có, bạch Thế Tôn.

50) — “Do thủ diệt, nên hữu diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thọ diệt nên ái diệt. Do xúc diệt nên thọ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc diệt. Do danh sắc diệt, nên sáu xứ diệt. Do thức diệt, nên danh sắc diệt. Do hành diệt nên thức diệt. Do vô minh diệt, nên hành diệt!”. Này Susìma, Ông có thấy chăng?

— Thưa có, bạch Thế Tôn.

51) — Nhưng này, biết như vậy, thấy như vậy, Ông có chứng được các thần thông nhiều loại sai khác: Một thân hiện ra nhiều thân; nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước; đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho đến cõi Phạm thiên?

— Thưa không, bạch Thế Tôn.

 

52) — “Then knowing and seeing thus, Susı̄ma, do you, with the divine ear element, which is purified and surpasses the human, hear both kinds of sounds, the divine and human, those that are far as well as near?”

“No, venerable sir.”

53) — “Then knowing and seeing thus, Susı̄ma, do you understand the minds of other beings and persons, having encompassed them with your own mind?”

“No, venerable sir.”

54) “Then knowing and seeing thus, Susı̄ma, do you recollect your manifold past abodes with their modes and details?”

“No, venerable sir.”

55) “Then knowing and seeing thus, Susı̄ma, do you, with the divine eye, which is purified and surpasses the human, see beings passing away and being reborn and understand how beings fare on in accordance with their kamma?”

“No, venerable sir.”

52) — Này Susìma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân, Ông có thể nghe hai loại tiếng, tiếng chư Thiên và tiếng loài Người, tiếng xa và tiếng gần?

— Thưa không, bạch Thế Tôn.

53) — Này Susìma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, với tâm của mình biết được tâm của chúng sanh sai khác, của loài Người sai khác. Với tâm có tham, Ông biết được tâm có tham… với tâm không giải thoát, Ông biết được là tâm không giải thoát; với tâm giải thoát, Ông biết được là tâm giải thoát?

— Thưa không, bạch Thế Tôn.

54) — Này Susìma, có phải biết như vậy, thấy như vậy, Ông có thể nhớ được nhiều đời quá khứ sai khác. Như một đời… (như trên)… Ông có thể nhớ được nhiều đời quá khứ sai khác cùng với các nét đại cương và các chi tiết?

— Thưa không, bạch Thế Tôn.

55) — Này Susìma, nhưng biết như vậy, thấy như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, Ông có thể thấy các chúng sanh chết đi sanh lại… Ông có thể biết các chúng sanh tùy theo hạnh nghiệp của họ?

— Thưa không, bạch Thế Tôn.

 

56) — “Then knowing and seeing thus, Susı̄ma, do you dwell in those peaceful deliverances that transcend forms, the formless attainments, having touched them with the body?”

“No, venerable sir.”

57) “Here now, Susı̄ma: this answer and the nonattainment of those states, how could this be, Susı̄ma?”

56) — Này Susìma, nhưng biết như vậy, thấy như vậy, có phải sau khi vượt khỏi các sắc pháp, với thân cảm thọ vô sắc pháp Ông an trú với tịch tịnh giải thoát?

— Thưa không, bạch Thế Tôn.

57) — Nay ở đây, này Susìma, với câu trả lời như vậy, với những pháp này không chứng được, này Susìma, có phải Ông không làm được điều này?

 

VI

 

58) Then the Venerable Susı̄ma prostrated himself with his head at the Blessed One’s feet and said:

— “Venerable sir, I have committed a transgression in that I was so foolish, so confused, so inept that I went forth as a thief of the Dhamma in such a well-expounded Dhamma and Discipline as this. Venerable sir, may the Blessed One pardon me for my transgression seen as a transgression for the sake of future restraint.”

59) — “Surely, Susı̄ma, you have committed a transgression in that you were so foolish, so confused, so inept that you went forth as a thief of the Dhamma in such a wellexpounded Dhamma and Discipline as this.

60) Suppose, Susı̄ma, they were to arrest a bandit, a criminal, and bring him before the king, saying: ‘Sire, this man is a bandit, a criminal. Impose on him whatever punishment you wish.’ The king would say to them: ‘Come, men, bind this man’s arms tightly behind his back with a strong rope, shave his head, and lead him around from street to street and from square to square, beating a drum. Then take him out through the southern gate and to the south of the city cut off his head.’

61) What do you think, Susı̄ma, would that man experience pain and displeasure on that account?”

— “Yes, venerable sir.”

62) — “Although that man would experience pain and displeasure on that account, going forth as a thief of the Dhamma in such a well-expounded Dhamma and Discipline as this has results that are far more painful, far more bitter, and further, it leads to the nether world. But since you see your transgression as a transgression and make amends for it in accordance with the Dhamma, we pardon you for it.

63) For it is growth in the Noble One’s Discipline when one sees one’s transgression as a transgression, makes amends for it in accordance with the Dhamma, and undertakes future restraint.”

58) Rồi Tôn giả Susìma cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

— Một tội lỗi con đã vi phạm, bạch Thế Tôn, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện. Con đã xuất gia như một người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn chấp nhận con tội lỗi này là một tội lỗi để con ngăn ngừa trong tương lai!

59) — Này Susìma, thật sự Ông đã phạm tội, vì ngu đần, vì si mê, vì bất thiện, Ông đã xuất gia như người ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo giảng này.

60) Ví như, này Susìma, người ta bắt được một người ăn trộm, một người phạm tội, dắt đến cho vua và thưa: “Thưa Ðại vương, đây là người ăn trộm, người phạm tội. Ðại vương hãy gia phạt người ấy theo hình phạt nào như Ðại vương muốn”. Vua ấy nói như sau: “Các Ông hãy đem người này, lấy dây thật chắc trói cánh tay người này thật chặt về phía sau, cạo đầu người ấy đi, dắt người ấy đi xung quanh trên một xe nhỏ với một cái trống, đi từ đường này tới đường khác, từ ngã ba này đến ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và hãy chặt đầu người ấy tại thành phía Nam”.

Những người kia vâng theo lời vua dạy, lấy dây thật chắc trói cánh tay người ấy thật chặt về phía sau, cạo trọc đầu, dắt người ấy đi xung quanh trên một xe nhỏ với một cái trống, đi từ đường này tới đường khác, từ ngã ba này tới ngã ba khác, dắt người ấy ra khỏi cửa thành phía Nam, và chặt đầu người ấy tại thành phía Nam.

61) Này Susìma, Ông nghĩ thế nào? Người ấy do nhân duyên như vậy có cảm thọ khổ ưu hay không?

— Thưa có, bạch Thế Tôn.

62) — Này Susìma, dù cho người ấy do nhân duyên như vậy cảm thọ khổ ưu, hay không cảm thọ khổ ưu, thời sự xuất gia với tư cách ăn trộm pháp trong Pháp và Luật khéo thuyết này, do nhân duyên ấy phải rơi vào và chịu đựng khổ báo còn kịch liệt hơn và quả báo còn đau đớn hơn.

63) Này Susìma, Ông thấy phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ, nên Ta chấp nhận tội ấy cho Ông. Này Susìma, như vậy Luật của bậc Thánh được tăng trưởng, khi thấy được phạm tội là phạm tội và như pháp phát lộ để ngăn giữ trong tương lai.

 

VIII. Ascetics and Brahmins – Sa Môn, Bà La Môn: Phẩm Thứ Tám

 

71 (1) Aging-and-Death – Sa Môn, Bà La Môn

 

1) Thus have I heard.

On one occasion the Blessed One was dwelling at Sāvatthı̄ in Jeta’s Grove,

Anāthapiṇḍika’s Park.

2) There the Blessed One said:

3) — “Bhikkhus, those ascetics or brahmins who do not understand aging-and-death, its origin, its cessation, and the way leading to its cessation: these I do not consider to be ascetics among ascetics or brahmins among brahmins, and these venerable ones do not, by realizing it for themselves with direct knowledge, in this very life enter and dwell in the goal of asceticism or the goal of brahminhood.

4) “But, bhikkhus, those ascetics and brahmins who understand aging-and-death, its origin, its cessation, and the way leading to its cessation: these I consider to be ascetics among ascetics and brahmins among brahmins, and these venerable ones, by realizing it for themselves with direct knowledge, in this very life enter and dwell in the goal of asceticism and the goal of brahminhood.”

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ở vườn ông Anàthapindika.

2) Ở đây Thế Tôn…

3) — Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không biết già chết, không biết già chết tập khởi, không biết già chết đoạn diệt, không biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các Sa-môn không được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa các Bà-la-môn không được chấp nhận là Bà-la-môn; và những Tôn giả ấy không tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.

4) Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào biết già chết… (như trên)… biết con đường đưa đến già chết đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn ấy, giữa các Sa-môn được chấp nhận là Sa-môn, hay giữa các Bà-la-môn được chấp nhận là Bà-la-môn; và những Tôn giả ấy tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú ngay trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.

 

72 (2)–81 (11) Birth, Etc.

 

“Bhikkhus, those ascetics or brahmins who do not understand birth … existence … clinging … craving … feeling … contact … the six sense bases … name-andform … consciousness … volitional formations, their origin, their cessation, and the way leading to their cessation: these I do not consider to be ascetics among ascetics or brahmins among brahmins, and these venerable ones do not, by realizing it for themselves with direct knowledge, in this very life enter and dwell in the goal of asceticism or the goal of brahminhood.

“But, bhikkhus, those ascetics and brahmins who understand these things: these I consider to be ascetics among ascetics and brahmins among brahmins, and these venerable ones, by realizing it for themselves with direct knowledge, in this very life enter and dwell in the goal of asceticism and the goal of brahminhood.”

… Trú ở Sàvatthi.

Họ không biết sanh…

Họ không biết hữu…

Họ không biết thủ…

Họ không biết ái…

Họ không biết thọ…

Họ không biết xúc…

Họ không biết sáu xứ…

Họ không biết danh sắc…

Họ không biết thức…

Họ không biết hành… Họ không biết hành tập khởi, họ không biết hành đoạn diệt, họ không biết con đường đưa đến hành đoạn diệt…. .. tự mình với thắng trí đạt được, chứng được và an trú ngay trong hiện tại mục đích Sa-môn hạnh và mục đích Bà-la-môn hạnh.

  1. With Incorporated Repetition Series – Trung Lược Phẩm.

82 (1) A Teacher – Ðạo Sư…

 

1-11) — At Sāvatthı̄. “Bhikkhus, one who does not know and see as it really is aging-and-death, its origin, its cessation, and the way leading to its cessation, should search for a teacher in order to know this as it really is. “Bhikkhus, one who does not know and see as it really is birth … existence … clinging … craving … feeling … contact … the six sense bases … name-and-form … consciousness … volitional formations, their origin, their cessation, and the way leading to their cessation, should search for a teacher in order to know this as it really is.”

1) — Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy già chết, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với già chết. Ðối với ai không như thật biết và thấy già chết tập khởi, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với già chết tập khởi. Ðối với ai không như thật biết và thấy già chết đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với già chết đoạn diệt. Ðối với ai không như thật biết và thấy con đường đưa đến già chết đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với con đường đưa đến già chết đoạn diệt.

2) Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy sanh…

3) Này các Tỷ-kheo,. .. không như thật biết và thấy hữu…

4) Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy thủ…

5) Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy ái…

6) Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy thọ…

7) Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy xúc…

8) Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy sáu xứ…

9) Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy danh sắc…

10) Này các Tỷ-kheo… không như thật biết và thấy thức…

11) Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy hành, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với các hành. Ðối với ai không như thật biết và thấy các hành tập khởi, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với các hành tập khởi. Ðối với ai không như thật biết và thấy các hành đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với các hành đoạn diệt. Ðối với ai không như thật biết và thấy con đường đưa đến hành đoạn diệt, người ấy cần phải tìm đến bậc Ðạo Sư để có như thật trí đối với con đường đưa đến các hành đoạn diệt.

 

83 (2) Training – Học Tập

 

“Bhikkhus, one who does not know and see as it really is aging-and-death … volitional formations, their origin, their cessation, and the way leading to their cessation, should practise the training in order to know this as it really is.”

… Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy già chết, người ấy cần phải học tập để có như thật trí đối với già chết…

  

84 (3)–93 (12) Exertion, Etc. – Tu Tập

 

“Bhikkhus, one who does not know and see as it really is aging-and-death … volitional formations, their origin, their cessation, and the way leading to their cessation, should make an exertion … arouse a desire … arouse enthusiasm … be unremitting … arouse ardour … apply energy … practise perseverance … practise mindfulness … practise clear comprehension … practise diligence in order to know this as it really is.”

… Này các Tỷ-kheo, đối với ai không như thật biết và thấy già chết, người ấy cần phải tu tập để có như thật trí đối với già chết…

  1. Dục

… Dục cần phải thực hành…

  1. Nỗ Lực

… Nỗ lực cần phải thực hành…

  1. Bất Thối Chuyển

… Bất thối chuyển cần phải thực hành…

VII. Nhiệt Tâm

… Nhiệt tâm cần phải thực hành…

VIII. Tinh Tấn

… Tinh tấn cần phải thực hành…

  1. Kiên Trì

… Kiên trì cần phải thực hành…

  1. Chánh Niệm

… Chánh niệm cần phải thực hành…

  1. Chánh Tri

… Chánh tri cần phải thực hành…

XII. Không Phóng Dật

… Không phóng dật cần phải thực hành…

 

Sources:

Tài liệu tham khảo:

  1. http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu2-12b.htm
  2. http://lirs.ru/lib/sutra/Connected_Discourses_of_the_Buddha(Samyutta_Nikaya).Vol.I.pdf