07a. Kinh Tăng Chi Bộ – Chương Bảy Pháp – The Book of the Sevens – Phẩm 01 – 03 – Song ngữ

The Numerical Discourses of the Buddha

Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikàya)

Anh ngữ: Bhikkhu Bodhi.

Việt ngữ: Hòa thượng Thích Minh Châu.

Compile: Lotus group

The Book of the Sevens – page 997 – 1018 of 1925.

The First Fifty

I. Wealth – [I. Phẩm Tài Sản]

 

1 (1) Pleasing (1) – [(I) (1) Ðược Ái Mộ (1)]

 

  1. Thus, have I heard:

On one occasion, the Blessed One was dwelling at Savatthi in Jeta’s Grove, Ariathapindika’s Park. There the Blessed One addressed the bhikkhus:

– “Bhikkhus!”

– “Venerable sir!” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:

  1. “Bhikkhus, possessing seven qualities, a bhikkhu is displeasing and disagreeable to his fellow monks and is neither, respected nor esteemed by them. What seven?
  2. Here, (1) a bhikkhu is desirous of gains, (2) honor, and (3) reputation; (4) he

is morally shameless and (5) morally reckless; (6) he has evil desires and (7) holds wrong view.

  1. Possessing these seven qualities, a bhikkhu is displeasing and disagreeable to his fellow monks and is neither respected nor esteemed by them. “Bhikkhus, possessing seven qualities, a bhikkhu is pleasing and agreeable to his fellow monks and is respected and esteemed by them. What seven?
  2. Here, (1) a bhikkhu is not desirous of gains, or (2) honor, or (3) a reputation; (4) he has a sense of moral shame and (5) moral dread; (6) he has few desires

and (7) holds right view.

Possessing these seven qualities, a bhikkhu is pleasing and agreeable to his fellow monks and is respected and esteemed by them.”

  1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvathì, Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Này các Tỷ-kheo.

– Bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

  1. – Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không được các đồng Phạm hạnh ái mộ, không được khả ý, không được kính trọng, không được bắt chước tu tập theo. Thế nào là bảy?
  2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo ưa muốn lợi dưỡng, ưa muốn tôn kính, ưa muốn được tán thán, không xấu hổ, không sợ hãi, ác dục và tà kiến.

Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không được các đồng Phạm hạnh ái mộ, không được khả ý, không được kính trọng, không được bắt chước tu tập theo.

  1. Thành tựu bảy pháp, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được các đồng Phạm hạnh ái mộ, được khả ý, được kính trọng, được bắt chước tu tập theo. Thế nào là bảy?
  2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo không ưa muốn lợi dưỡng, không ưa muốn tôn kính, không ưa muốn được tán thán, có xấu hổ, có sợ hãi, ít dục và chánh kiến.

Thành tựu bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo được các đồng Phạm hạnh ái mộ, được khả ý, được kính trọng, được bắt chước tu tập theo.

 

2 (2) Pleasing (2) – [(II) (2) Ðược Ái Mộ(2)]

 

  1. “Bhikkhus, possessing seven qualities, a bhikkhu is displeasing and disagreeable to his fellow monks and is neither respected, nor esteemed by them. What seven?
  2. Here, (1) a bhikkhu is desirous of gains, (2) honor, and (3) reputation; (4) he is morally shameless and (5) morally reckless; (6) he is envious and (7) miserly. Possessing these seven qualities, a bhikkhu is displeasing and disagreeable to his fellow monks and is neither respected nor esteemed by them.
  3. “Bhikkhus, possessing seven qualities, a bhikkhu is pleasing and agreeable to his fellow monks and is respected and esteemed by them. What seven?
  4. Here, (1) a bhikkhu is not desirous of gains, (2) honor, (3) and reputation; (4) he has a sense of moral shame and (5) moral dread; (6) he is not envious and

(7) is not miserly. Possessing these seven qualities, a bhikkhu is pleasing and agreeable to his fellow monks and is respected and esteemed by them.”

… (như kinh 1, thay hai pháp cuối với “tật đố và xan tham” và với “không tật đố, không xan tham”).

 

3 (3) Powers in Brief – [(III) (3) Các Sức Mạnh Tóm Tắt]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven powers. What seven?
  2. The power of faith, the power of energy, the power of moral shame,

the power of moral dread, the power of mindfulness, the power of concentration, and the power of wisdom. These are the seven powers.”

 

The power of faith, the power of energy,

the powers of moral shame and moral dread;

the powers of mindfulness and concentration,

and wisdom, the seventh power;

a powerful bhikkhu possessing these

is wise and lives happily.

 

He should carefully examine the Dhamma

and deeply see the meaning with wisdom.

Like the extinguishing of a lamp

is the emancipation of the mind.

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy sức mạnh này. Thế nào là bảy?
  2. Tín lực, tấn lực, tàm lực, quý lực, niệm lực, định lực, tuệ lực. Này các Tỷ-kheo, có bảy sức mạnh này.

Tín lực và tấn lực,
Tàm lực và quý lực,
Niệm lực và định lực,
Tuệ là lực thứ bảy,
Và tuệ lực thứ bảy;
Tỷ-kheo với lực này,
Sống hiền trí an lạc,
Như lý suy tư pháp,
Quán rõ đích trí tuệ,
Như ngọn lửa tàn diệt,
Với tâm được giải thoát
.

 

4 (4) Powers in pigtail – [(IV) (4) Các Sức Mạnh rộng Thuyết]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven powers. What seven?
  2. The power of faith, the power of energy, the power of moral shame,

the power of moral dread, the power of mindfulness, the power of concentration, and the power of wisdom. (1) “And what, bhikkhus, is the power of faith?

  1. Here, a noble disciple is endowed with faith. He places faith in the enlightenment of the Tathagata thus: ‘The Blessed One is an arahant, perfectly enlightened, accomplished in true knowledge and conduct, fortunate, knower of the world, unsurpassed trainer of persons to be tamed, teacher of devas and humans, the Enlightened One, the Blessed One.’ This is called the power of faith. (2) “And what is the power of energy?
  2. Here, a noble disciple has aroused energy for abandoning unwholesome qualities and acquiring wholesome qualities; he is strong, firm in exertion,

not casting off the duty of cultivating wholesome qualities. This is called the power of energy. (3) “And what is the power of moral shame?

  1. Here, a noble disciple has a sense of moral shame; he is ashamed of bodily,

verbal, and mental misconduct; he is ashamed [4] of acquiring bad, unwholesome qualities. This is called the power of moral shame. (4) “And what is the power of moral dread?

  1. Here, a noble disciple dreads wrongdoing; he dreads bodily, verbal, and mental misconduct; he dreads acquiring bad, unwholesome qualities. This is called the power of moral dread. (5) “And what is the power of mindfulness?
  2. – Này các Tỷ-kheo, có bảy sức mạnh này. Thế nào là bảy?
  3. Tín lực, tấn lực, tàm lực, quý lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín lực?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tấn lực?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử sống tinh cần tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, làm sanh khởi các pháp thiện, nỗ lực, kiên trì, không có bỏ rơi gánh nặng đối với các pháp thiện. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tàm lực?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng xấu hổ, xấu hổ với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, xấu hổ vì đã thành tựu các pháp ác, bất thiện. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tàm lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là quý lực?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, sợ hãi vì thành tựu các pháp ác, bất thiện. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là quý lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là niệm lực?

 

  1. Here, a noble disciple is mindful, possessing supreme mindfulness and alertness, one who remembers and recollects what was done and said long ago. This is called the power of mindfulness. (6) “And what is the power of concentration?
  2. Here, secluded from sensual pleasures, secluded from unwholesome states,

a noble disciple enters and dwells in the first jhana … [as in 5:14§4] … the fourth jhana. This is called the power of concentration. (7) “And what is the power of wisdom?

  1. Here, a noble disciple is wise; he possesses the wisdom that discerns arising and passing away, which is noble and penetrative and leads to the complete destruction of suffering. This is called the power of wisdom.

“These, bhikkhus, are the seven powers.”

[The verses are identical with those of 7:3.]

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử đầy đủ niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức nhớ, tùy niệm những điều làm đã lâu, nói đã lâu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là niệm lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là định lực?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử ly dục, ly các pháp ác bất thiện… chứng đạt và an trú vào sơ Thiền, … Thiền thứ hai … Thiền thứ ba … Thiền thứ tư. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là định lực.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ lực?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có trí tuệ, có trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập (quyết trạch) đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ lực.

Các pháp này, này các Tỷ-kheo, là bảy pháp.

Tín lực và tấn lực,
Tàm lực và quý lực,
Niệm lực và định lực,
Và tuệ lực thứ bảy;
Tỷ-kheo với lực này,
Sống hiền trí an lạc,
Như lý suy tư pháp,
Quán rõ đích trí tuệ,
Như ngọn lửa tàn diệt,
Với tâm được giải thoát.

 

5 (5) Wealth in Brief – [(V) (5) Các Tài Sản Tóm Tắt]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven kinds of wealth. What seven?
  2. The wealth of faith, the wealth of virtuous behavior, the wealth of moral shame, the wealth of moral dread, the wealth of learning, the wealth of generosity, and the wealth of wisdom. [5] These are the seven kinds of wealth.”

 

The wealth of faith, the wealth of virtuous behavior,

the wealth of moral shame and moral dread,

the wealth of learning and generosity,

with wisdom, the seventh kind of wealth:

 

when one has these seven kinds of wealth,

whether a woman or a man,

they say that one is not poor,

that one’s life is not lived in yam.

 

Therefore, an intelligent person,

remembering the Buddhas’ teaching,

should be intent on faith and virtuous behavior

confidence and vision of the Dhamma.

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy?
  2. Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.

Này các Tỷ-kheo, đây là bảy tài sản.

Tín tài và giới tài,
Tàm tài và quý tài,
Văn tài và quý tài,
Và tuệ là tài thứ bảy;
Ai có những tài này,
Nữ nhân hay nam nhân,
Ðược gọi không nghèo khổ,
Mạng sống không trống rỗng,
Do vậy tín và giới,
Tịnh tín và thấy pháp,
Bậc trí chuyên chú tâm,
Ức niệm lời Phật dạy.

 

6 (6) Wealth in Detail – [(VI) (6) Các Tài Sản Rộng Thuyết]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven kinds of wealth. What seven?
  2. The wealth of faith, the wealth of virtuous behavior, the wealth of moral shame, the wealth of moral dread, the wealth of learning, the wealth of generosity, and the wealth of wisdom. (1) “And what, bhikkhus, is the wealth of faith?
  3. Here, a noble disciple is endowed with faith. He places faith in the

enlightenment of the Tathagata thus: ‘The Blessed One is an arahant … the Enlightened One, the Blessed One.’ This is called the wealth of faith. (2) “And what is the wealth of virtuous behavior?

  1. Here, a noble disciple abstains from the destruction of life, abstains from taking what is not given, abstains from sexual misconduct, abstains from false speech, abstains from liquor, wine, and intoxicants, the basis for heedlessness. This is called the wealth of virtuous behavior. (3) “And what is the wealth of moral shame?
  2. Here, a noble disciple has a sense of moral shame; he is ashamed of bodily, verbal, and mental misconduct; he is ashamed of acquiring bad, unwholesome

qualities. This is called the wealth of moral shame. (4) “And what is the wealth of moral dread?

  1. Here, a noble disciple dreads wrongdoing; he dreads bodily, verbal, and mental misconduct; he dreads acquiring bad, unwholesome qualities. This is called the wealth of moral dread. (5) “And what is the wealth of learning?
  2. – Này các Tỷ-kheo, có bảy tài sản này. Thế nào là bảy?
  3. Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tín tài?
  4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán… Phật, Thế Tôn”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tín tài.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giới tài?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử từ bỏ sát sanh… từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là giới tài.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tàm tài?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có xấu hổ, xấu hổ đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, xấu hổ vì đã thành tựu các pháp ác, bất thiện. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tàm tài.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là quý tài?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có lòng sợ hãi, sợ hãi đối với thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ sợ hãi vì thành tựu các pháp ác, bất thiện. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là quý tài.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là văn tài?

 

  1. Here, a noble disciple has learned much, remembers what he has learned, and accumulates what he has learned. Those teachings that are good in the beginning, good in the middle, and good in the end, with the right meaning and phrasing, which proclaim the perfectly complete and pure spiritual life—such teachings as these he has learned much of, retained in mind, recited verbally, mentally investigated, and penetrated well by view. This is called the wealth of learning. (6) “And what is the wealth of generosity?
  2. Here, a noble disciple dwells at home with a heart devoid, of the stain of

miserliness, freely generous, openhanded, delighting in relinquishment,

one devoted to charity, delighting in giving and sharing. This is called the wealth of generosity. (7) “And what is the wealth of wisdom?

  1. Here, a noble disciple is wise; he possesses the wisdom that discerns arising and passing away, which is noble and penetrative and leads to the complete destruction of suffering. This is called the wealth of wisdom.

“These, bhikkhus, are the seven kinds of wealth.”

[The verses are identical with those of 7:5.]

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, đề cao đời sống Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh; những pháp ấy, vị ấy nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là văn tài.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thí tài?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử với tâm từ bỏ cấu uế của xan tham, sống tại gia phóng xả, với bàn tay rộng mở, ưa thích xả bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích san sẻ vật bố thí. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thí tài.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tuệ tài?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử có trí tuệ, có trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập (quyết trạch) đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ tài.

Này các Tỷ-kheo, đây gọi là bảy tài sản.

Tín tài và giới tài,
Tàm tài và quý tài,
Văn tài và thí tài,
Và tuệ, tài thứ bảy;
Ai có những tài này,
Nữ nhân hay nam nhân,
Ðược gọi không nghèo khổ,
Mạng sống không trống rỗng,
Do vậy tín và giới,
Tịnh tín và thấy pháp,
Bậc trí chuyên chú tâm,
Ức niệm lời Phật dạy.

 

7 (7) Ugga – [(VII) (7) Ugga]

 

  1. Then Ugga the king’s chief minister approached the Blessed One, paid homage to him, sat down to one side, and said:

– “It’s astounding and amazing, Bhante, how Migara of Rohana is so rich, with such great wealth and property.”

– “But how rich is Migara of Rohana? How much wealth and property does he have?”

– “He has a hundred thousand units of minted gold, not to mention silver.”

– “There is that kind of wealth, Ugga; this I don’t deny. But that kind of wealth can be taken away by fire, water, kings, thieves, and displeasing heirs. However, Ugga, these seven kinds of wealth cannot be taken away by fire, water, kings, thieves, and displeasing heirs. What seven? The wealth of faith, the wealth

of virtuous behavior, the wealth of moral shame, the wealth of moral dread, the wealth of learning, the wealth of generosity, and the wealth of wisdom. These seven kinds of wealth cannot be taken away by fire, water, kings, thieves, and displeasing heirs.”

[The verses are identical with those of 7:5.]

  1. Bấy giờ Ugga, vị Ðại thần của vua đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Ugga, vị đại thần của vua, bạch Thế Tôn:

– Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Giàu có đến như vậy, đại phú đến như vậy, tài sản nhiều đến như vậy, bạch Thế Tôn, là Migàra Rohaneyyo!

– Này Ugga, Migàra Rohaneyyo giàu có đến mức nào, đại phú đến mức nào, tài sản nhiều đến mức nào?

– Bạch Thế Tôn, về vàng có đến trăm ngàn, còn nói gì về bạc!

– Này Ugga, đây có thể là tài sản chăng? Không phải Ta nói rằng đây không phải là tài sản. Nhưng tài sản ấy bị chi phối bởi lửa, nước, vua chúa, ăn trộm, các kẻ thừa tự, thù địch. Bảy tài sản này, này Ugga, không bị lửa, nước, vua chúa, ăn trộm, các kẻ thừa tự, thù địch chi phối. Thế nào là bảy? Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài, thí tài, tuệ tài. Bảy loại tài sản này, này Ugga, không bị lửa, nước, vua chúa, ăn trộm, các kẻ thừa tự, thù địch chi phối.

Tín tài và giới tài,
Tàm tài và quý tài,
Văn tài và thí tài,
Và tuệ tài thứ bảy;
Ai có tài sản này,
Nữ nhân hay nam nhân,
Người ấy là đại phú
Thiên nhân giới khó thắng
Do vậy tín và giới,
Tịnh tín và thấy pháp,
Bậc trí chuyên chú tâm,
Ức niệm lời Phật dạy.

 

8 (8) Fetters – [(VIII) (8) Các Kiết Sử]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven fetters, What seven?
  2. The fetter of compliance, the fetter of aversion, the fetter of views, the fetter of doubt, the fetter of conceit, the fetter of lust for existence, and the fetter of ignorance. These are the seven fetters.”
  3. – Này các Tỷ-kheo, có bảy kiết sử này. Thế nào là bảy?
  4. Tùy tham kiết sử, sân kiết sử, kiến kiết sử, nghi kiết sử, mạn kiết sử, hữu tham kiết sử, vô minh kiết sử. Này các Tỷ-kheo có bảy kiết sử này.

 

9 (9) Abandoning – [(IX) (9) Ðoạn Tận]

 

  1. “Bhikkhus, the spiritual life is lived to abandon and eradicate seven fetters. What seven?
  2. The fetter of compliance, the fetter of aversion, the fetter of views, the fetter of doubt, the fetter of conceit, the fetter of lust for existence, and the fetter of

ignorance. The spiritual life is lived to abandon and eradicate these seven fetters.

“When a bhikkhu has abandoned the fetter of compliance, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it so that it is no more subject to future arising; when he has abandoned the fetter of aversion … the fetter of views … the fetter of doubt … the fetter of conceit … the fetter of lust for existence, the fetter of ignorance, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it so that it is no more subject to future arising, he is then called a bhikkhu who has cut off craving, stripped off the fetter, and by completely breaking through

conceit, has made an end of suffering.”

  1. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận, do cắt đứt bảy kiết sử, Phạm hạnh được sống. Thế nào là bảy?
  2. Do đoạn tận, cắt đứt tùy tham kiết sử, Phạm hạnh được sống… sân kiết sử… kiến thiết sử… nghi kiết sử… mạn kiết sử… hữu tham kiết sử… do đoạn tận, do cắt đứt vô minh kiết sử, Phạm hạnh được sống.

Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận, cắt đứt bảy kiết sử này, Phạm hạnh được sống. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đã đoạn tận tùy tham kiết sử, cắt đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây sà la, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã chặt đứt khát ái, đã giải tỏa kiết sử, và chơn chánh hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau.

 

10 (10) Miserliness – [(X) (10) Xan Tham]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven fetters. What seven?
  2. The fetter of compliance, the fetter of aversion, the fetter of views, the

fetter of doubt, the fetter of conceit, the fetter of envy, and the fetter of miserliness. These are the seven fetters.”

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy kiết sử này. Thế nào là bảy?
  2. Tùy tham kiết sử, sân kiết sử, kiến kiết sử, nghi kiết sử, mạn kiết sử, tật đố kiết sử, xan tham kiết sử. Này các Tỷ-kheo, có bảy kiết sử này.

 

II. Underlying Tendencies – [II. Phẩm Tùy Miên]

 

11 (1) Underlying Tendencies (1) – [(I) (11) Tùy Miên (1)]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven underlying tendencies. What seven?
  2. The underlying tendency to sensual lust, the underlying tendency to aversion, the underlying tendency to views, the underlying tendency to doubt, the underlying tendency to conceit, the underlying tendency to lust for existence, and the underlying tendency to ignorance. These are the seven underlying

tendencies.”

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy tùy miên. Thế nào là bảy?
  2. Dục tham tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên. Này các Tỷ-kheo, có bảy tùy miên này.

 

12 (2) Underlying Tendencies (2) – [(II) (12) Tùy Miên (2)]

 

  1. “Bhikkhus, the spiritual life is lived to abandon and eradicate the seven underlying tendencies. What seven?
  2. The underlying tendency to sensual lust, the underlying tendency to aversion,

the underlying tendency to views, the underlying tendency to doubt, the underlying tendency to conceit, the underlying tendency to lust for existence, and the underlying tendency to ignorance. The spiritual life is lived to abandon and eradicate these seven underlying tendencies.

  1. “When a bhikkhu has abandoned the underlying tendency to sensual lust, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it so that it is no more subject to future arising; when he has abandoned the underlying tendency to a version … the underlying tendency to views … the underlying tendency to

doubt … the underlying tendency to conceit … the underlying tendency to lust for existence … the underlying tendency to ignorance, cut it off at the root, made it like a palm stump, obliterated it so that it is no more subject to future arising, he is then called a bhikkhu without underlying tendencies, one who has

cut off craving, stripped off the fetter, and by completely breaking through conceit, has made an end of suffering.”

  1. – Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận, do cắt đứt bảy tùy miên, Phạm hạnh được sống. Thế nào là bảy?
  2. Do đoạn tận, do cắt đứt dục tham tùy miên, Phạm hạnh được sống… sân tùy miên… kiến tùy miên.. nghi tùy miên… mạn tùy miên… hữu tham tùy miên… do đoạn tận, do cắt đứt vô minh tùy miên, Phạm hạnh được sống.
  3. Này các Tỷ-kheo, do đoạn tận, cắt đứt bảy tùy miên này, Phạm hạnh được sống. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo nào đoạn tận dục tham tùy miên… vô minh tùy miên, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây sàla, làm cho không thể tái sanh, làm cho không thể sanh khởi trong tương lai, này các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã chặt đứt khát ái, đã giải tỏa tùy miên, với chơn chánh hiện quán kiêu mạn, đã đoạn tận khổ đau.

 

13 (3) Families – [(III) (13) Gia Ðình]

 

  1. “Bhikkhus, possessing seven factors, a family that has not yet been approached is not worth approaching, or one that has been approached is not worth sitting with. What seven?
  2. (1) They do not rise up in an agreeable way. (2) They do not pay homage in an agreeable way. (3) They do not offer a seat in an agreeable way. (4) They hide what they have from one. (5) Even when they have much, they give little. (6) Even when they have excellent things, they give coarse things. (7) They give without respect, not respectfully. Possessing these seven factors, a family

that has not yet been approached is not worth approaching, or one that has been approached is not worth sitting with.

“Bhikkhus, possessing seven factors, a family that has not yet been approached is worth approaching or one that has been approached is worth sitting with. What seven? (1) They rise up in an agreeable way. (2) They pay homage in. an agreeable way. (3) They offer a seat in an agreeable way. (4) They do

not hide what they have from one. (5) When they have much, they give much. (6) When they have excellent things, they give excellent things. (7) They give, respectfully, not without respect. Possessing these seven factors, a family that has not yet been approached is worth approaching, or one that has been

approached is worth sitting with.”

  1. – Này các Tỷ-kheo, gia đình nào thành tựu bảy chi phần; nếu chưa đến thăm, thời không xứng đáng để đi đến, nếu đã đến thăm, thời không xứng đáng để ngồi xuống. Thế nào là bảy?
  2. Không vui vẻ đứng dậy, không vui vẻ chào đón, không vui vẻ mời ngồi; có chỗ ngồi đem giấu đi; từ nhiều họ cho ít, từ đồ thù thắng, họ cho đồ thô xấu; họ cho không có kính trọng, không có kính lễ.

Này các Tỷ-kheo, gia đình nào thành tựu bảy chi phần này; nếu chưa đến, thời không xứng đáng để đến; nếu đã đến, thời không xứng đáng để ngồi xuống.

 

14 (4) Persons – [(IV) (14) Các Hạng Người]

 

  1. “Bhikkhus, these seven persons are worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world. What seven?
  2. The one liberated in both respects, the one liberated by wisdom, the body witness, the one attained to view, the one liberated by faith, the Dhamma follower, and the faith follower.

These seven persons are worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world.”

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy hạng người đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?
  2. Câu phần giải thoát, tuệ giải thoát, thân chứng, kiến chí, tín giải thoát, tùy pháp hành, tùy tín hành.

Bảy hạng người này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.

 

15 (5) Similar to Those in Water – [(V) (15) Ví Dụ Nước]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven kinds of persons found existing in the world similar to those in water. What seven?
  2. (1) Here, some person has gone under once and remains under. (2) Some

person has risen up and then goes under. (3) Some person has risen up and stays there. (4) Some person has risen up, sees clearly, and looks around. (5) Some person has risen up and crosses over. (6) Some person has risen up and gained a firm foothold. (7) Some person has risen up, crossed over, and gone

beyond, a brahmin who stands on high ground. (1) “And how, bhikkhus, is a person one who has gone under once and remains under?

  1. Here, some person possesses exclusively black, unwholesome qualities. In this way a person, is one who has gone under once and remains under. (2) “And how is a person one who has risen up and then goes under?
  2. Here, some person has risen up, [thinking]: ‘Good is faith in [cultivating] wholesome qualities; good is a sense of moral shame in [cultivating] wholesome qualities; good is moral dread in [cultivating] wholesome qualities; good is

energy in [cultivating] wholesome qualities; good is wisdom in [cultivating] wholesome qualities.’ However, his faith does not become stable or grow but rather diminishes. His sense of moral shame … moral dread … energy … wisdom does not become stable or grow but rather diminishes. In this way, a person is

one who has risen up and then goes under. (3) “And how is a person one who has risen up and stays put?

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy hạng người được ví dụ với nước, có mặt hiện hữu ở đời. Thế nào là bảy?
  2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người lặn một lần rồi chìm luôn; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên, lại chìm xuống; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên, được đứng lại; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên, lại nhìn và thấy; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên lại bơi tới; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên, đạt được chỗ có chân đứng; ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên, sau khi bơi qua đến được bờ bên kia, lên đứng trên đất liền, là một vị Bà-la-môn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người, lặn một lần rồi chìm luôn?
  3. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người hoàn toàn thành tựu với các pháp đen, bất thiện. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người lặn một lần rồi chìm luôn. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên lại chìm xuống?
  4. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người nổi lên và suy nghĩ: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng xấu hổ… Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Lòng tin ấy của vị đo không an trú, không tăng trưởng, bị giảm thiểu. Lòng xấu hổ đó của vị ấy… lòng sợ hãi đó của vị ấy… sự tinh tấn đó của vị ấy… Trí tuệ đó của vị ấy không an trú, không tăng trưởng, bị giảm thiểu. Như vậy, này các Tỷ-kheo là hạng người sau khi nổi lên, lại chìm xuống.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên, được đứng lại?

 

  1. Here, some person has risen up, [thinking]: ‘Good is faith in [cultivating] wholesome qualities … good is wisdom in [cultivating] wholesome qualities.’ His faith neither diminishes nor grows; it just stays put. His sense of moral shame … his moral dread … his energy … his wisdom neither diminishes nor grows; it just stays put. In this way, a person is one who has risen up and stays put. (4) “And how is a person one who has risen up, sees clearly, and looks around?
  2. Here, some person has risen up, [thinking]: ‘Good is faith in [cultivating] wholesome qualities … good is wisdom in [cultivating] wholesome qualities.’ With the utter destruction of three fetters, this person is a stream-enterer, no

longer subject to [rebirth in] the lower world, fixed in destiny, heading for enlightenment. It is in this way that a person is one who has risen up, sees clearly, and looks around. (5) “And how is a person one who has risen up and is crossing over?

  1. Here, some person has risen up, [thinking]: ‘Good is faith in [cultivating] wholesome qualities … good is wisdom in [cultivating] wholesome qualities.’ With the utter destruction of three fetters and with the diminishing of greed, hatred, and delusion, this person is a once-returner who, after coming back

to this world only one more time, will make an end of suffering. It is in this way, that a person is one who has risen up and is crossing over. (6) “And how is a person one who has risen up and attained a firm foothold?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người nổi lên và suy nghĩ như sau: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng hổ thẹn… Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Lòng tin đó của vị ấy không giảm thiểu, không tăng trưởng, được đứng lại, lòng hổ thẹn đó của vị ấy… lòng sợ hãi đó của vị ấy… sự tinh tấn đó của vị ấy… trí tuệ đó của vị ấy không giảm thiểu, không tăng trưởng, được đứng lại. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi nổi lên, được đứng lại.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên, lại nhìn và thấy?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người nổi lên và suy nghĩ: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng hổ thẹn… Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Vị ấy, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu, không còn bị đọa lạc, quyết chắc chứng ngộ Bồ đề. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi nổi lên, lại nhìn và thấy.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên, lại bơi tới?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người nổi lên và suy nghĩ: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng hổ thẹn… Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Vị ấy, sau khi đoạn diệt ba kiết sử, sau khi làm muội lược tham sân si, là bậc Nhất Lai, còn trở lui đời này một lần nữa rồi đoạn tận khổ đau. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi nổi lên, lại bơi tới.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên, lại đạt được chân đứng?

 

  1. Here, some person has risen up, [thinking]: ‘Good is faith in [cultivating] wholesome qualities … good is wisdom in [cultivating] wholesome qualities.’ With the utter destruction of the five lower fetters, he is of spontaneous birth,

due to attain final nibbana there without returning from that world. It is in this way that a person is one who has risen up and gained a firm foothold. (7) “And how is a person one who h as risen up, crossed over, and gone beyond, a brahmin who stands on high ground?

  1. Here, some person has risen up, [thinking]: ‘Good is faith in [cultivating] wholesome qualities; good is a sense of moral shame in [cultivating] wholesome qualities; good is moral dread in [cultivating] wholesome qualities; good is energy in [cultivating] wholesome qualities; good is wisdom in [cultivating]

wholesome qualities.’ With the destruction of the taints, he has realized for himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by-wisdom, and having entered upon it, he dwells in it. It is in this way that a person is one who has risen up, crossed over, and gone beyond,

a brahmin who stands on high ground.

“These, bhikkhus, are the seven k inds of persons found existing in the world similar to those in water.”

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sau khi nổi lên và suy nghĩ: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng hổ thẹn… Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Vị ấy, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không trở lui trạng thái ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi nổi lên, đã đạt chân đứng.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người sau khi nổi lên đã bơi qua, đạt đến bờ bên kia, đứng trên đất liền, là bậc Bà-la-môn?

  1. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người nổi lên và suy nghĩ: “Lành thay, lòng tin trong các thiện pháp! Lành thay, lòng xấu hổ … Lành thay, lòng sợ hãi… Lành thay, sự tinh tấn… Lành thay, trí tuệ trong các thiện pháp!” Vị ấy, sau khi đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, tự mình chứng ngộ với thắng trí, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người sau khi nổi lên đã bơi qua, đã đến bờ bên kia, đã đứng trên đất liền, là bậc Bà-la-môn.

Này các Tỷ-kheo, đây là bảy hạng người được ví dụ với nước, có mặt, hiện hữu ở đời.

 

16 (6) Impermanence – [(VI) (16) Không Thường Xuyên]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven kinds of persons who are worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world. What seven?
  2. (1) “Here, bhikkhus, some person dwells contemplating impermanence in all conditioned phenomena, perceiving impermanence, experiencing impermanence, constantly, continuously, and uninterruptedly focusing on it with the mind, fathoming it with wisdom. With the destruction of the taints,

he has realized for himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, he dwells in it. This is the first kind of person worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the World.

  1. (2) “Again, some person dwells contemplating impermanence in all conditioned phenomena, perceiving impermanence, experiencing impermanence, constantly, continuously, and uninterruptedly focusing on it with the mind, fathoming it with wisdom. For him the exhaustion of the taints and the exhaustion of life occur simultaneously. This is the second kind of person worthy of gifts.
  2. (3) “Again, bhikkhus, some person dwells contemplating impermanence in all conditioned phenomena, perceiving impermanence, experiencing impermanence, constantly, continuously, and uninterruptedly focusing on it with the mind, fathoming it with wisdom. With the utter destruction of the five lower fetters, he becomes an attainer of nibbana in the interval. This is the third kind of person worthy of gifts… (4) “… With the utter destruction of the five lower fetters, he becomes an attainer of nibbana upon landing. This is the

fourth kind of person worthy of gifts … (5) “… With the utter destruction of the five lower fetters, he becomes an attainer of nibbana without exertion. This is the fifth kind of person worthy of gifts … (6) “… With the utter destruction of the five lower fetters, he becomes an attainer of nibbana through exertion. This is the sixth kind of person worthy of gifts … (7) “Again, bhikkhus, some person dwells contemplating impermanence in all conditioned phenomena, perceiving

impermanence, experiencing impermanence, constantly, continuously, and uninterruptedly focusing on it with the mind, fathoming it with wisdom: With the utter destruction of the five lower fetters, he becomes one bound upstream, heading toward the Akanittha realm.  This is the seventh kind of person

worthy of gifts…

”These, bhikkhus, are the seven kinds of persons who are worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world.”

  1. – Có bảy hạng người này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời. Thế nào là bảy?
  2. Ở đây, có hạng người sống tùy quán vô thường trong tất cả hành, tưởng vô thường, cảm thọ vô thường, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải với tuệ thể nhập. Vị ấy, với sự đoạn diệt các lậu hoặc… sau khi chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Này các Tỷ-kheo, đây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.
  3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người sống tùy quán vô thường… với tuệ thể nhập. Với vị ấy, sự chấm dứt các lậu hoặc và sự chấm dứt sinh mạng xảy đến một lần, không trước không sau. Ðây là hạng người thứ hai, này các Tỷ-kheo… vô thượng ở đời.
  4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người sống tùy quán vô thường… với tuệ thể nhập. Vị ấy, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Niết-bàn… chứng được Tổn hại Niết-bàn… chứng được Vô hành Niết-bàn… chứng được Hữu hành Niết-bàn… chứng được Thượng lưu, đạt được Sắc cứu cánh. Ðây là hạng người thứ bảy, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được chắp tay, là ruộng phước vô thượng ở đời.

Bảy hạng người này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính… vô thượng ở đời.

 

17 (7) Suffering – [(VII) (17) Khổ, Vô Ngã, Tịch Tịnh]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven kinds of persons who are worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worth, of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world. What seven?
  2. (1) “Here, bhikkhus, some person dwells contemplating suffering in all conditioned phenomena, perceiving suffering, experiencing suffering, constantly, continuously, and uninterruptedly focusing on it with the mind, fathoming it with wisdom. With the destruction of the taints, he has realized for

himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, he dwells in it. This is the first kind of person worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world.”

[The rest as in 7:16, but based on contemplating suffering in all conditioned phenomena.]

  1. – Có bảy hạng người này, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính… ở đời. Thế nào là bảy?
  2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người sống tùy quán khổ trong tất cả các hành… sống tùy quán vô ngã trong tất cả các pháp… sống tùy quán lạc trong Niết-bàn, tưởng lạc, cảm thọ lạc trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy với sự đoạn diệt các lậu hoặc… sau khi chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Ðây là hạng người thứ nhất đáng được cung kính… là ruộng phước vô thượng ở đời.
  3. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người sống tùy quán lạc trong Niết-bàn, tưởng lạc cảm thọ lạc, trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Với vị ấy, sự chấm dứt các lậu hoặc và sự chấm dứt sinh mạng xảy đến một lần, không trước không sau. Ðây là hạng người thứ hai đáng được cung kính… là ruộng phước vô thượng ở đời.
  4. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người sống quán lạc trong Niết-bàn, tưởng lạc, cảm thọ lạc trong tất cả thời, liên tục, không có gián đoạn, với tâm thắng giải, với tuệ thể nhập. Vị ấy sự đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Niết-bàn…, chứng được Tổn hại Niết-bàn… chứng được Vô hành Niết-bàn… chứng được Hữu hành Niết-bàn… chứng được Thượng lưu, đạt được Sắc cứu cánh. Ðây là hạng người thứ bảy, này các Tỷ-kheo, đáng được cung kính… là ruộng phước vô thượng ở đời.

Này các Tỷ-kheo, đây là bảy hạng người ở đời đáng được cung kính… là ruộng phước vô thượng ở đời.

 

18 (8) Non-Self – [(VIII) (18) Sự Thù Diệu]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven kinds of persons who are worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world: What seven?
  2. (1) “Here, bhikkhus, some person dwells contemplating non-self in all phenomena, perceiving non-self, experiencing non-self, constantly, continuously, and uninterruptedly focusing on it with the mind, fathoming it with wisdom. With the destruction of the taints, he has realized for himself with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind,

liberation by wisdom, and having entered upon it, he dwells in it. This is the first kind of person worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world.”

[The rest as in 7:16, but’ based on contemplating non-self in all phenomena.]

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy sự thù diệu này. Thế nào là bảy?
  2. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp; tha thiết quán Pháp và trong tương lai khát vọng quán Pháp; tha thiết nhiếp phục lòng dục, và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục; tha thiết Thiền tịnh, và trong tương lai khát vọng Thiền tịnh; tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn; tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ; tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.

Này các Tỷ-kheo, đây là bảy căn bản để được tán thán.

 

19 (9) Happiness

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven kinds of persons who are worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world. What seven?

“Here, bhikkhus, some person dwells contemplating the happiness in nibbana, perceiving such happiness, experiencing such happiness, constantly, continuously, and uninterruptedly focusing on it with the mind, fathoming it with wisdom. With the destruction of the taints, he has realized for himself

with direct knowledge, in this very life, the taintless liberation of mind, liberation by wisdom, and having entered upon it, he dwells in it. This is the first kind of person worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of reverential salutation, an unsurpassed field of merit for the world.”

[The rest as in 7:16, but based on contemplating the happiness

in nibbana.] [15]

 

20 (10) Bases for [Being] “Ten-less”

 

“Bhikkhus, there are these seven bases for [being] ‘ten-less.’ What seven?

“Here, (1) a bhikkhu has a keen desire to undertake the training and does not lose his fondness for undertaking the training in the future. (2) He has a strong desire to attend to the Dhamma and does not lose his fondness for attending to the Dhamma in the future, (3) He has a strong desire to remove vain Wishes

and does not lose his fondness for removing vain wishes in the future. (4) He has a strong desire for seclusion and does not lose his fondness for seclusion in the future. (5) He has a strong desire to arouse energy and does not lose his fondness for arousing energy in the future. (6) He has a strong desire for

mindfulness and alertness and does riot lose his fondness for mindfulness and alertness in the future. (7) He has a strong desire to penetrate by view and does not lose his fondness for penetrating by view in the future. These are the seven bases for [being] ‘ten-less.'”

 

III. The Vajji Seven – [III. Phẩm Vajjì (Bạt Kỳ)]

 

21 (1) Sarandada – [(I) (19) Tại Sàrandada]

 

  1. Thus, have I heard. On one occasion, the Blessed One was dwelling at Vesali at the Sarandada Shrine. Then a number of Licchavis approached the Blessed One, paid homage to him, and sat down to one side. The Blessed One said this to them:

– “I will teach you, Licchavis, seven principles of non-decline. Listen and attend closely. I will speak.”

– “Yes, Bhante,” those Licchavis replied. The Blessed One said this:

  1. “And what, Licchavis, are the seven principles of n on decline? (1) “Licchavis, as long as the Vajjis assemble often and hold frequent assemblies, only growth is to be expected for them, not decline. (2) “As long as the Vajjis assemble in harmony, adjourn in harmony, and conduct the affairs of the Vajjis in harmony, only growth is to be expected for them, not decline. (3) “A s long as the Vajjis do not decree anything that has not been decreed or abolish anything that has already been decreed but undertake and follow the ancient Vajji principles

as they have been decreed, only growth is to be expected for them, not decline.

(4) ” As long as the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate the Vajji elders and think they should be heeded, only growth is to be expected for them, not decline. (5) “As long as the V ajjis do not abduct women and girls from

their families and force them to live with them, only growth is to be expected for them, not decline. (6) “As long as the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate their traditional shrines, both those within [the city] and those outside, and do not neglect the righteous oblations as given and done to them in the past, only growth is to be expected for them, not decline. (7) “A s long as the Vajjis provide righteous protection, shelter, and guard for arahants, [with the intention]: ‘How can those arahants who have not yet come here come to our realm, and how can those arahants who have already come dwell at ease

here?’ only growth is to be expected for them, not decline.

“Licchavis, as long as these seven principles of non-decline continue among the Vajjis, and the Vajjis are seen [established] in them, only growth is to be expected for them, not decline.”

  1. Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Vajjì, tại điện thờ Sàrandada. Bấy giờ có nhiều người Licchavì đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các người Licchavì đang ngồi một bên:

– Này các Licchavì, Ta sẽ giảng cho các Ông bảy pháp không làm cho suy giảm, Hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các người Licchavì ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

  1. – Và này các Licchavì, thế nào là bảy pháp không làm cho suy giảm? Này các Licchavì, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp, và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Licchavì, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này các Licchavì, khi nào dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết, này các Licchavì, dân Vajjì được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này các Licchavì, khi nào dân chúng Vajji không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa, thời này các Licchavì, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này các Licchavì, khi nào dân chúng Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này các Licchavì, khi nào dân Vajjì không bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ, và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình, thời này các Licchavì, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này các Licchavì, khi nào dân chúng Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước đúng với quy pháp, thời này các Licchavì, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này các Licchavì, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì, khi các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này các Licchavì, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Và này các Licchavì, cho đến khi nào bảy pháp không làm suy giảm này được tồn tại giữa dân Vajjì, khi nào dân chúng Vajjì sẽ được thấy giữa bảy pháp không làm suy giảm này, thời này các Licchavì, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

 

22 (2) Vassakara – [(II) (20) Vassakàra]

 

  1. Thus have I heard:

On one occasion, the Blessed One was dwelling at Rajagaha on Mount Vulture Peak. Now on that occasion King Ajatasattu Vedehiputta of Magadha wished to wage war against the Vajjis. He said thus:

– “As powerful and mighty as these Vajjis are; I will annihilate them, destroy them, bring calamity and disaster upon them.”

Then King Ajatasattu addressed the chief minister of Magadha, the brahmin Vassakara:

– “Come, brahmin, go to the Blessed One and in my name, pay homage to him with your head at his feet. Inquire whether he is fit and healthy, agile and strong, and feeling at ease. Say: ‘Bhante, King Ajatasattu Vedehiputta of Magadha pays homage to the Blessed One with his head a t your feet. He inquires whether you are fit and healthy, agile and strong, and feeling at ease.’ Then say thus: ‘Bhante, King Ajatasattu wishes to wage war against the Vajjis.

He says thus: “As powerful and mighty as these Vajjis are, I will annihilate them, destroy them, bring calamity and disaster upon them.” ‘ Learn well how the Blessed One answers you and report it to me, for Tathagatas do not speak falsely.”

– “Yes, sir,” the brahmin Vassakara replied.

Then he rose from his seat and went to the Blessed One. He exchanged greetings with the Blessed One, and when they had exchanged greetings

and cordial talk, he sat down to one side and said:

– “Master Gotama, King Ajatasattu Vedehiputta of Magadha pays homage to the Blessed One with his head at your feet. He inquires whether you are fit and healthy, agile and strong, and feeling at ease. Master Gotama, King Ajatasattu wishes to wage war against the Vajjis. He says thus: ‘As powerful and mighty

as these Vajjis are, I will annihilate them, destroy them, bring calamity and disaster upon them.'”

  1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajàtasattu, con bà Videhi vua nước Magadha muốn chinh phạt dân chúng Vajjì. Vua nói như sau:

– Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu họ có uy quyền, có hùng mạnh. Ta quyết làm cỏ dân Vajjì. Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì. Ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong.

Rồi Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha nói với Bà-la-môn Vassakàra, đại thần nước Magadha:

– Này Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta cúi đầu đảnh lễ chân Ngài, vấn an Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: “Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu con bà Videhi, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an Ngài ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú”. Và khanh bạch tiếp: “Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha muốn chinh phạt dân Vajjì. Vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu họ có uy quyền, có hùng mạnh. Ta quyết làm cỏ dân Vajjì. Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì. Ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”. Thế Tôn trả lời khanh thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Như Lai không bao giờ nói không như thật.

– Tâu Ðại vương, xin vâng.

Bà-la-môn Vassakàra, đại thần nước Magadha vâng theo lời dạy của Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha, cho thắng những cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với các cỗ xe ấy đi ra khỏi Vương Xá, đến tại núi Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn; sau khi đến, liền nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakàra, đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an Ngài có ít bệnh, ít não, khinh an, lạc trú. Thưa Tôn giả Gotama, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha muốn chinh phạt dân xứ Vajjì, vua tự nói: “Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dù họ có uy quyền, có hùng mạnh. Ta quyết làm cỏ dân Vajjì. Ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì. Ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong”.

 

  1. Now on that occasion the Venerable Ananda was standing behind the Blessed One fanning him. The Blessed One then addressed the Venerable Ananda:

– (1) “Ananda, have you heard whether the Vajjis are assembling often and holding frequent assemblies?”

– ” I have heard, Bhante, that they do so.”

– “Ananda, as long as the Vajjis assemble often and hold frequent assemblies, only growth is to be expected for them, not decline. (2) “Have you heard, Ananda, whether the Vajjis are assembling in harmony, adjourning their meetings in harmony, and conducting the affairs of the Vajjis in harmony?”

– “I have heard, Bhante, that they do so.”

– “Ananda, as long as the Vajjis assemble in harmony, adjourn in harmony, and conduct the affairs of the Vajjis in harmony, only growth is to be expected for them, not decline. (3) “Have you heard, Ananda, whether the Vajjis do not

decree anything that has not been decreed and do not abolish anything that has already been decreed, but undertake and follow the ancient Vajji principles as they have been decreed?”

– “I have heard, Bhante, that they do so.”

“Ananda, as long as the Vajjis do not decree anything that has not been decreed or abolish anything that has already been decreed but undertake and follow the ancient Vajji principles as they have been decreed, only growth is to be expected for them, not decline.

– (4) “Have you heard, Ananda, whether the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate the Vajji elders and think they should be heeded?”

“I have heard, Bhante, that they do so.”

  1. Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đứng quạt phía sau lưng Thế Tôn. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

– Này Ananda, Thầy có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau không?

– Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau.

– Này Ananda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Thầy có biết dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn kết không?

– Bạch Thế Tôn, con có nghe dân chúng Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc trong niệm đoàn kết.

– Này Ananda, khi nào dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết và làm việc trong niệm đoàn kết, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Thầy có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không?

– Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì thuở xưa.

– Này Ananda, khi nào dân Vajjì không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như đã ban hành thuở xưa, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Thầy có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì, và nghe theo lời dạy của những vị này không?

– Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì, và nghe theo lời dạy của những vị này.

 

– “Ananda, as long as the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate the Vajji eiders and think they should be heeded, only growth is to be expected for them, not decline. (5) “Have you heard, Ananday whether the Vajjis do not abduct women and girls from their families and force them to live with them?”

– “I have heard, Bhante, that they don’t.”

– “Ananda, as long as the Vajjis do not abduct women and girls from their families and force them to live with them, only growth is to be expected for them, not decline. (6) “Have you heard, Ananda, whether the Vajjis honor,

respect, esteem, and venerate their traditional shrines, both those within [the city] and those outside, and do not neglect the righteous oblations as given and done to them in the past?”

– “I have heard, Bhante, that they do so.”

– “Ananda, as long as the Vajjis honor, respect, esteem, and venerate their traditional shrines, both those within [the city] and those outside, and do not neglect the righteous oblations as given and done to them in the past, only growth is to be expected for them, not decline. (7) “Have you heard, Ananda, whether the Vajjis provide righteous protection, shelter, and guard for arahants, [with the intention]: ‘How can those arahants who have not yet come here come to our realm, and how can those arahants who have already come dwell at ease here?'”

– “I have heard, Bhante, that they do so.”

– “Ananda, as long as the Vajjis provide righteous protection, shelter, and guard for arahants, [with the intention]: ‘How can those arahants who have not yet come here come to our realm, and how can those arahants who have already come dwell at ease here?’ only growth is to be expected for them,

not decline.”

– Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì, và nghe theo lời dạy của những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Thầy có nghe dân Vajjì không bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình không?

– Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình.

– Này Ananda, khi nào có bắt cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này Ananda Thầy có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?

– Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.

– Này Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm. Này Ananda Thầy có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì, khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc không?

– Bạch Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì, khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc.

– Này Ananda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì, khiến các vị A-la-hán chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được sống an lạc, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

 

  1. Then the Blessed One addressed the brahmin Vassakara, the chief minister of Magadha: “O n one occasion, brahmin, I was dwelling at Vesall at the Sarandada Shrine. There I taught the Vajjis these seven principles of non-decline. As long as these seven principles of non-decline continue among the Vajjis, and the Vajjis are seen [established] in them, only growth is to be expected for them, not decline.”
  2. When this was said, the brahmin Vassakara said this to the Blessed One:

– “If, Master Gotama, the Vajjis were to observe even one among these principles of non-decline, only growth would be expected for them, not decline. What can be said if they observe all seven? King Ajatasattu Vedehiputta of Magadha, Master Gotama, cannot take the Vajjis by war, except through

treachery or internal dissension. And now, Master Gotama, we must be going. We are busy and have much to do.”

– “You may go, brahmin, at your own convenience.”

Then the brahmin V assakara, the chief minister of Magadha, having delighted and rejoiced in the Blessed One’s words, rose from his seat and left.

  1. Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakàra đại thần nước Magadha:

– Này Bà-la-môn, một thời, Ta sống ở Vesàli, tại tự miếu Sàrandada, Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp không bị suy giảm này. Này Bà-la-môn, khi nào bảy pháp không bị suy giảm, được duy trì giữa dân Vajjì, khi nào dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp không bị suy giảm này, thời này Bà-la-môn, dân Vajjì sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

  1. Khi được nói vậy, Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha bạch Thế Tôn:

– Thưa Tôn giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp không bị suy giảm này, thời dân Vajjì nhất định được lớn mạnh, không bị suy giảm, huống nữa là đủ các bảy pháp không bị suy giảm. Thưa Tôn giả Gotama, Ajàtasattu, con bà Videhi, vua nước Magadha không thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận, trừ phi dùng ngoại giao hay kế ly gián. Thưa Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.

– Này Bà-la-môn, hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.

Rồi Bà-la-môn Vassakàra, vị đại thần nước Magadha hoan hỷ tán thán lời dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

 

23 (3) Non-Decline (1) – [(III) (21) Vị Tỷ Kheo]

 

  1. Thus have I heard:

On one occasion, the Blessed One was dwelling at Rajagaha on Mount Vulture Peak. There the Blessed One addressed the bhikkhus:

– “Bhikkhus, I will teach you seven principles of non-decline. Listen and attend closely. I will speak.”

– “Yes, Bhante,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:

  1. “And what, bhikkhus, are the seven principles of nondecline?

(1) “As long as the bhikkhus assemble often and hold frequent assemblies, only growth is to be expected for them, not decline.

(2) “As long as the bhikkhus assemble in harmony, adjourn in harmony, and conduct the affairs of the Sangha in harmony, only growth is to be expected for them, not decline.

(3) “As long as the bhikkhus do not decree anything that has not been decreed or abolish anything that has already been decreed, but undertake and follow the training rules as they have been decreed, only growth is to be expected for them, not decline.

(4) “As long as the bhikkhus honor, respect, esteem, and venerate those bhikkhus who are elders, of long standing, long gone forth, fathers and guides of the Sangha, and think they should be heeded, only growth is to be expected for them, not decline,

(5) ” As long as the bhikkhus do not come under the control of arisen craving that leads to renewed existence, only growth is to be expected for them, not decline.

(6) “As long as the bhikkhus are intent on forest lodgings, only growth is to be expected for them, not decline.

(7) “As long as the bhikkhus each individually establish mindfulness [with the intention]: ‘How can well-behaved fellow monks who have not yet come here come, and how can well-behaved fellow monks who are already here dwell at

ease? only growth is to be expected for them, not decline.

“Bhikkhus, as long as these seven principles of non-decline continue among the bhikkhus, and the bhikkhus are seenb [established] in them, only growth is to be expected for them, not decline.”

  1. Như vầy tôi nghe:

Một thời, Thế Tôn trú ở Vương Xá, tại núi Linh Thứu (Gijjhakùta). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

– Có bảy pháp không bị suy giảm, này các Tỷ-kheo. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng:

– Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

  1. – Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy pháp không bị suy giảm? Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường hay tụ họp và tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ họp trong niệm đoàn kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo Thượng tọa, những vị này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc cha của chúng Tăng, bậc Thầy của chúng Tăng và nghe theo những lời dạy của những vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị chi phối bởi tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích sống những chỗ nhàn tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân an trú chánh niệm, khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở. Và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở được sống an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp không làm suy giảm này được duy trì giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các Tỷ-kheo được dạy bảy pháp không làm suy giảm này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

 

24 (4) Non-Decline (2) – [(IV) (22) Công Việc]

 

  1. “Bhikkhus, I will teach you seven principles of non-decline. Listen and attend closely. I will speak.”

– “Yes, Bhante,’ those bhikkhus replied. The Blessed One said this:

  1. “And what, bhikkhus, are the seven principles of nondecline?

(1) “As long as the bhikkhus do not delight in work, do not take delight in work, are not devoted to delight in work, only growth is to be expected for them, not decline.

(2) As long as the bhikkhus do not delight in talk … (3) … do not delight in

sleep … (4) … do not delight in company … (5) … do not have evil desires and come under the control of evil desires … (6) … do not associate with bad friends, bad companions, bad comrades … (7) … do not come to a stop midway [in their development] on account of some minor achievement of distinction, only growth is to be expected for them, not decline.

“Bhikkhus, as long as these seven principles of non-decline continue among the bhikkhus, and the bhikkhus are seen [established] in them, only growth is to be expected for them, not decline.”

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy pháp không làm suy giảm này… Ta sẽ giảng…
  2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy pháp không làm suy giảm?

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích làm thế sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm thế sự, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích phiếm luận, không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm luận, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích ngủ nghỉ, không hoan hỷ ngủ nghỉ, không đam mê ngủ nghỉ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích quần tụ, không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có ác dục vọng, không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bè bạn ác dục vọng, không thân tín ác dục vọng, không cộng hành với ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không dừng ở nửa chừng giữa sự đạt đến những quả vị thấp kém và những quả vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp không làm suy giảm này được duy trì giữa các Tỷ-kheo, khi nào các Tỷ-kheo được dạy bảy pháp không làm suy giảm này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

 

25 (5) Non-Decline (3) – [(V) (23) Tin Tưởng]

 

  1. “Bhikkhus, I will teach you seven principles of non-decline. Listen and attend closely; I will speak.”

– “Yes, Bhante,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:

  1. “And what, bhikkhus, are the seven principles of nondecline?

(1) “As long as the bhikkhus are endowed with faith, only growth is to be expected for them, not decline. (2) As long as they have a sense of moral shame … (3) … have moral dread … (4) … are learned … (5) … are energetic … (6) … are

Mindful … (7) … are wise, only growth is to be expected for them, not decline.

“Bhikkhus, as long as these seven principles of non-decline continue among the bhikkhus, and the bhikkhus are seen [established] in them, only growth is to be expected for them, not decline.”

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy pháp không bị suy giảm, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn.

Các vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

  1. – Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy pháp không bị suy giảm?

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo có tín tâm, có tàm, có quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp không làm suy giảm này được duy trì giữa các Tỷ-kheo, khi nào các Tỷ-kheo được dạy bảy pháp không làm suy giảm này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

 

26 (6) Non-Decline (4) – [(VI) (24) Giác Chi]

 

  1. “Bhikkhus, I will teach you seven principles of non-decline. Listen and attend closely. I will speak.”

– “Yes, Bhante,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:

  1. “And what, bhikkhus, are the seven principles of non-declirie?

(1) As long as the bhikkhus develop the enlightenment factor of mindfulness, only growth is to be expected for them, not decline. (2) As long as they develop the enlightenment factor of discrimination of phenomena … (3) … the enlightenment factor of energy … (4) … the enlightenment factor of rapture

… (5) … the enlightenment factor of tranquility … (6) … the enlightenment factor of concentration … (7) … the enlightenment factor of equanimity, only growth is to be expected for them, not decline.

“Bhikkhus, as long as these seven principles of non-decline continue among the bhikkhus, and the bhikkhus are seen [established] in them, only growth is to be expected for them, not decline.”

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy pháp không làm suy giảm này… Ta sẽ giảng… (như trên).
  2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy pháp không làm suy giảm?

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, tu tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập hỷ giác chi, tu tập khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp không làm suy giảm này được duy trì giữa các Tỷ-kheo, khi nào các Tỷ-kheo được dạy bảy pháp không làm suy giảm này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

 

27 (7) Non-Decline (5) – [(VII) (25) Tưởng]

 

  1. “Bhikkhus, I will teach you seven principles of non-decline. Listen and attend closely. I will speak.”

– “Yes, Bhante,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:

  1. “And what, bhikkhus, are the seven principles of non-decline?

(1) As long as the bhikkhus develop the perception of impermanence, only growth is to be expected for them, not decline. (2) As long as they develop the perception of non-self … (3) … the perception of unattractiveness … (4) … the perception of danger … (5) … the perception of abandoning … (6) … the perception of dispassion … (7) … the perception of cessation, only growth is to be expected for them, not decline.

“Bhikkhus, as long as these seven principles of non-decline continue among the bhikkhus, and the bhikkhus are seen [established] in them, only growth is to be expected for them, not decline.”

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy pháp không làm suy giảm này… Ta sẽ giảng… (như trên).
  2. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là bảy pháp không làm suy giảm?

Này các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tu tập vô thường tưởng, tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng, tu tập nguy hại tưởng, tu tập đoạn diệt tưởng, tu tập vô tham tưởng, tu tập diệt tưởng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

Này các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp không làm suy giảm này được duy trì giữa các Tỷ-kheo, khi nào các Tỷ-kheo được dạy bảy pháp không làm suy giảm này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được lớn mạnh, không bị suy giảm.

 

28 (8) A Trainee – [(VIII) (26) Hữu Học]

 

  1. “Bhikkhus, these seven qualities lead to the decline of a bhikkhu who is a trainee. What seven?
  2. Delight in work, delight in talk, delight in sleep, delight in company, not guarding the doors of the sense faculties, lack of moderation in eating; and when there are matters pertaining to the Sangha that are [to be dealt with]

in the Sangha, the bhikkhu who is a trainee does not reflect thus: ‘There are in the Sangha elders of long standing, long gone forth, responsible, who will take responsibility for that [work].’ He himself undertakes them.’

These seven qualities lead to the decline of a bhikkhu who is a trainee.

  1. “Bhikkhus, these seven qualities lead to the non-decline of a bhikkhu who is a trainee. What seven?
  2. Not taking delight in work, not taking delight in talk, not taking delight in sleep, not taking delight in company, guarding the doors of the sense faculties, moderation in eating; and when there are matters pertaining to the Sangha that are [to be dealt with] in the Sangha, the bhikkhu who is a trainee reflects thus: ‘There are in the Sangha elders of long standing, long gone forth, responsible, who will take responsibility for that [work].’ He does not himself undertake them. These seven qualities lead to the nondecline of a bhikkhu who is a trainee.”
  3. – Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa đến sự thối đọa cho vị Tỷ-kheo hữu học. Thế nào là bảy?
  4. Ưa thích công việc; ưa thích nói chuyện; ưa thích ngủ nghỉ; ưa thích hội chúng; các căn không phòng hộ; ăn uống không tiết độ; khi chúng Tăng có sự việc, tại đấy, Tỷ-kheo hữu học không có suy tư: “Giữa Tăng chúng có các trưởng lão có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu năm, gánh vác chức vụ. Họ sẽ được biết đến vì những chức vụ này”, và không có tự mình chuyên tâm.

Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa vị Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa.

  1. Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa Tỷ-kheo hữu học đến không thối đọa. Thế nào là bảy?
  2. Không ưa thích công việc; không ưa thích nói chuyện; không ưa thích ngủ nghỉ; không ưa thích hội chúng; các căn được phòng hộ; ăn uống có tiết độ; khi chúng Tăng có sự việc, tại đấy, Tỷ-kheo hữu học có suy tư: “Giữa Tăng chúng, có các trưởng lão có nhiều kinh nghiệm, xuất gia đã lâu năm, gánh vác chức vụ. Họ sẽ được biết đến vì những chức vụ này” và có tự mình chuyên tâm.

 

29 (9) Decline – [(IX) (27) Thối Ðọa]

 

  1. “Bhikkhus, these seven things lead to the decline of a lay follower. What seven?
  2. (1) He stops seeing bhikkhus; (2) he neglects listening to the good Dhamma; (3) he does not train in the higher virtuous behavior; (4) he is full of suspicion, toward bhikkhus, whether they be elders, newly ordained, or of middle

standing; (5) he listens to the Dhamma with a mind bent on criticism, seeking to find faults with it; (6) he seeks a person worthy of offerings among outsiders; (7) he first does [meritorious] deeds there.

These seven things lead to the decline of a lay follower.

  1. “Bhikkhus, these seven things lead to the non-decline of a lay follower. What seven?
  2. (1) He does not stop seeing bhikkhus; (2) he does not neglect listening to the good Dhamma; (3) he trains in the higher virtuous behavior; (4) he is full of confidence in bhikkhus, whether they be elders, newly ordained, or of middle

standing; (5) he listens to the Dhamma with a mind that is not bent on criticism, not seeking to find faults with it; (6) he does not seek a person worthy of offerings among outsiders; (7) he first does [meritorious] deeds here.

These seven things lead to the non-decline of a lay follower.”

 

The lay follower who stops seeing

[bhikkhus] who have developed themselves,

[who stops] hearing the noble ones’ teachings,

and does not train in the higher virtue;

whose suspicion toward the bhikkhus

is ever on the increase;

who wants to listen to the good Dhamma

with a mind bent on criticism;

the lay follower who seeks

one worthy of offerings among outsiders

and first undertakes to do

meritorious deeds toward them:

these seven well-taught principles

describe what leads to decline.

A lay follower who resorts to them

falls away from the good Dhamma.

 

The lay follower who does not stop seeing

[bhikkhus] who have developed themselves,

who listens to the noble ones’ teachings,

and trains in the higher virtue;

whose confidence in the bhikkhus

is ever on the increase;

who wants to listen to the good Dhamma

with a mind not bent on criticism;

the lay follower who seeks none

worthy, of offerings among outsiders;

but who here first undertakes

to do meritorious deeds:

these seven well-taught principles

describe what leads to non-decline.

A lay follower who resorts to them

does riot fall away from the good Dhamma.

  1. – Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa một nam cư sĩ đến thối đọa. Thế nào là bảy?
  2. Quên, không đến thăm Tỷ-kheo; phóng túng nghe diệu pháp; không tu tập tăng trưởng giới; ít tin tưởng các Tỷ-kheo trưởng lão, trung niên, tân nhập; nghe pháp với tâm cật nạn, tìm tòi các khuyết điểm; tìm người xứng đáng cúng dường ngoài Tăng chúng; tại đấy phục vụ trước.

Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa một nam cư sĩ đến thối đọa.

  1. Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa một nam cư sĩ đến không thối đọa. Thế nào là bảy?
  2. Không quên đến thăm vị Tỷ-kheo; không phóng túng nghe diệu pháp; tu tập tăng thượng giới; nhiều tin tưởng đối với các Tỷ-kheo trưởng lão, trung niên, tân nhập; nghe pháp với tâm không cật nạn, không tìm tòi các khuyết điểm; không tìm người xứng đáng cúng dường ngoài Tăng chúng; ở đấy phục vụ trước.

Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa nam cư sĩ đến không đọa lạc.

Cư sĩ không đến thăm,
Các vị tu tự ngã,
Không đến nghe Thánh pháp,
Không học tập thắng giới,
Ít tin các Tỷ-kheo,
Tin ấy được tăng trưởng,
Với tâm thích cật nạn,
Muốn nghe chân diệu pháp.
Tìm ở ngoài Tăng chúng,
Người xứng đáng cúng dường,
Ở đây vị cư sĩ,
Lại lo phục vụ trước.
Bảy pháp làm suy giảm,
Ðược khéo léo diễn giảng,
Cư sĩ phục vụ chúng,
Diệu pháp bị suy giảm.

Cư sĩ có đến thăm,
Các vị tu tự ngã,
Có đến nghe thuyết pháp,
Có học tập thắng giới,
Có tin các Tỷ-kheo,
Tin ấy được tăng trưởng,
Với tâm không cật nạn,
Muốn nghe chân diệu pháp.
Không tìm ngoài Tăng chúng,
Người xứng đáng cúng dường,
Ở đây vị cư sĩ,
Lo lắng phục vụ trước.
Bảy pháp không suy giảm,
Ðược khéo léo diễn giảng,
Cư sĩ phục vụ chúng,
Diệu pháp không suy giảm.

 

30 (10) Failure – [(X-XII) (28-30) Bất Hạnh Thối Ðọa]

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven failures of a lay follower. What seven? … [as in 7:29] … Bhikkhus, there are these seven successes of a lay follower. What seven? … [as in 7:29] … These are the seven successes of a lay follower.”

 

31 (11) Ruin

 

  1. “Bhikkhus, there are these seven ruins for a lay follower. What seven? … [as in 7:29] … Bhikkhus, there are these seven victories for a lay follower. What seven? … [as in 7:29] … These are the seven victories for a lay follower.”

[The verses are identical swith those in 7:29.]

  1. – Này các Tỷ-kheo, có bảy bất hạnh này của người cư sĩ… Này các Tỷ-kheo, có bảy điều may mắn của người cư sĩ… Này các Tỷ-kheo, có bảy thối đọa này của người cư sĩ… Này các Tỷ-kheo, có bảy thắng tiến này của người cư sĩ… Thế nào là bảy?
  2. Không quên đến thăm vị Tỷ-kheo; không phóng túng nghe diệu pháp; tu tập tăng thượng giới, nhiều tin tưởng đối với các vị Tỷ-kheo trưởng lão, trung niên, tân nhập; nghe pháp với tâm không cật nạn, không tìm tòi các khuyết điểm; không tìm người xứng đáng cúng dường ngoài Tăng chúng; tại đấy phục vụ trước.

Bảy pháp này, này các Tỷ-kheo, là thắng tiến của người cư sĩ.

Cư sĩ không đến thăm,
Các vị tu tự ngã,
Không đến nghe Thánh pháp,
Không học tập thắng giới,
Ít tin các Tỷ-kheo,
Tin ấy được tăng trưởng,
Với tâm thích cật nạn,
Muốn nghe chân diệu pháp.
Tìm ở ngoài Tăng chúng,
Người xứng đáng cúng dường,
Ở đây vị cư sĩ,
Lại lo phục vụ trước.
Bảy pháp làm suy giảm,
Ðược khéo léo diễn giảng,
Cư sĩ phục vụ họ,
Diệu pháp bị suy giảm.

Cư sĩ có đến thăm,
Các vị tu tự ngã,
Có đến nghe thuyết pháp
Có học tập thắng giới,
Có tin các Tỷ-kheo,
Tin ấy được tăng trưởng,
Với tâm không cật nạn,
Muốn nghe chân diệu pháp.
Không tìm ngoài Tăng chúng,
Người xứng đáng cúng dường,
Ở đây vị cư sĩ,
Lo lắng phục vụ trước.
Bảy pháp không suy giảm,
Ðược khéo léo diễn giảng,
Cư sĩ phục vụ chúng,
Diệu pháp không suy giảm.

 

Sources:

Tài liệu tham khảo:

  1. http://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi07-0103.htm
  2. http://lirs.ru/lib/sutra/The_Numerical_Discourses_of_the_Buddha,Anguttara_Nikaya,Bodhi,2012.pdf
  3. https://theravada.vn/tang-chi-bo-chuong-vii-bay-phap-i-pham-tai-san-pham-1-3/