Chương 2 – Quyển I: Sự liên hệ trong quá khứ – MP 02: Their previous history – Song ngữ

English: T. W. Rhys Davids – From Pali Language.

Việt ngữ: Tỳ khưu Indacanda (Trương Đình Dũng).

Compile: Middle Way Group.

Reverence be to the Blessed One, The Arahat, and the Sammâ-SamBudda.

Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, và đấng Chánh Biến Tri.

 

MP 02: Their previous history (pubba-yoga)

Chương 2 – Quyển I: Sự liên hệ trong quá khứ

 

  1. By Pubba-yoga is meant their past Karma (their doings in this or previous lives). Long ago, they say, when Kassapa the Buddha was promulgating the faith, there dwelt in one community near the Ganges a great company of members of the Order. There the brethren, true to established rules and duties, rose early in the morning, and taking the long-handled brooms, would sweep out the courtyard and collect the rubbish into a heap, meditating the while on the virtues of the Buddha.

Nghe nói ở thời quá khứ, trong khi Giáo Pháp của đức Thế Tôn Kassapa đang vận hành, có hội chúng tỳ khưu đông đảo cư ngụ tại một trú xứ cạnh dòng sông. Tại nơi ấy, các vị tỳ khưu, được thành tựu về phận sự và giới hạnh, sau khi thức dậy vào lúc sáng sớm, cầm lấy các chổi dài cán, trong lúc suy tưởng về ân đức Phật, các vị quét sân và gom rác thành đống.

 

  1. One day a brother told a novice to remove the heap of dust. But he, as if he heard not, went about his business; and on being called a second time, and a third, still went his way as if he had not heard. Then the brother, angry with so intractable a novice, dealt him a blow with the broom stick.

Khi ấy, có một vị tỳ khưu đã nói với một vị sa di rằng: “Này sa di, hãy đến. Hãy đổ bỏ rác này.” Vị ấy vẫn bước đi như là không nghe. Trong khi được gọi đến lần thứ nhì, rồi đến lần thứ ba, vị ấy vẫn bước đi như là không nghe. Do đó, vị tỳ khưu ấy (nghĩ rằng): “Sa di này khó dạy,” rồi nổi giận, và đã ban cho cú đánh bằng cái cán chổi.

 p.5

[paragraph continues]

[3] This time, not daring to refuse, he set about the task crying; and as he did so he muttered to himself this first aspiration: ‘May I, by reason of this meritorious act of throwing out the rubbish, in each successive condition in which I may be born up to the time when I attain Nirvâna, be powerful and glorious as the midday sun!’

Do đó, vị (sa di) ấy, vừa khóc lóc vì sợ hãi vừa đổ bỏ rác, đã lập nên lời phát nguyện thứ nhất rằng: “Do nghiệp phước thiện của việc đổ bỏ rác này, cho đến khi tôi đạt được Niết Bàn, trong khoảng thời gian ấy, tại mỗi nơi được lần lượt sanh ra, mong rằng tôi có đại quyền lực, có đại oai lực như là mặt trời lúc giữa trưa.”

 

  1. When he had finished his work he went to the river side to bathe, and on beholding the mighty billows of the Ganges seething and surging, he uttered this second aspiration: ‘May I, in each successive condition in which I may be born till I attain Nirvâna, possess the power of saying the right thing, and saying it instantly, under any circumstance that may arise, carrying all before me like this mighty surge!’

Sau khi đổ bỏ rác, vị ấy đã đi đến bến sông để tắm. Sau khi nhìn thấy làn sóng của dòng sông đang rì rào, vị ấy cũng đã lập nên lời phát nguyện thứ nhì rằng: “Do nghiệp phước thiện của việc đổ bỏ rác này, cho đến khi tôi đạt được Niết Bàn, trong khoảng thời gian ấy, tại mỗi nơi được lần lượt sanh ra, mong rằng tôi có tài ứng đối được sanh lên đúng trường hợp, có tài ứng đối không bị ngập ngừng như là làn sóng này vậy.”

 

  1. Now that brother, after he had put the broom away in the broom closet, had likewise wandered down to the river side to bathe, and as he walked he happened to overhear what the novice had said. Then thinking: ‘If this fellow, on the ground of such an act of merit, which after all was instigated by me, can harbor hopes like this, what may not I attain to?’ he too made his wish, and it was thus:

Vị tỳ khưu ấy, sau khi cất cây chổi ở phòng để chổi, cũng đang đi đến bến sông để tắm. Sau khi nghe được lời phát nguyện của vị sa di, vị ấy đã suy nghĩ rằng: “Cũng vì bị tác động bởi ta nên người này phát nguyện như thế. Có phải là sẽ không ảnh hưởng đến ta?” và đã lập nên lời phát nguyện rằng:

 

‘In each successive condition in which I may be born till I attain Nirvâna, may I too be ready in saying the right thing at once, and more especially may I have the power of unravelling and of solving each problem and each puzzling question this young man may put-carrying all before me like this mighty surge!’

“Cho đến khi tôi đạt được Niết Bàn, trong khoảng thời gian ấy, tại mỗi nơi được lần lượt sanh ra, mong rằng tôi có tài ứng đối không bị ngập ngừng như là làn sóng ở sông này vậy. Mong rằng tôi có khả năng để gỡ rối, để tháo gỡ mọi sự ứng đối về câu hỏi được hỏi đi hỏi lại bởi người này.”

 

  1. Then for the whole period between one Buddha and the next these two people wandered from existence to existence among gods and men. And our Buddha saw them too, and just as he did

Cả hai người ấy, trong khi luân hồi giữa chư Thiên và loài người, đã trải qua một khoảng thời gian giữa hai vị Phật. Và vị trưởng lão

 p.6

to the son of Moggalî and to Tissa the Elder, so to them also did he foretell their future fate, saying: ‘Five hundred years after I have passed away will these two reappear, and the subtle Law and Doctrine taught by me will they two explain, unravelling and disentangling its difficulties by questions put and metaphors adduced.’

Moggalliputtatissa đã được đức Phật của chúng ta nhìn thấy như thế nào, thì hai người này cũng đã được nhìn thấy như thế: “Khi năm trăm năm đã trôi qua kể từ khi sự viên tịch Niết Bàn của Ta, những người này sẽ tái sanh.” Và đã được xác định rằng: “Pháp và Luật nào đã được thực hiện một cách vi tế và đã được thuyết giảng bởi Ta, hai người này sẽ làm cho Pháp và Luật ấy được tháo gỡ, được rõ ràng bằng phương thức hỏi đáp và sự đúng đắn về ví dụ so sánh, rồi sẽ hệ thống lại.”

 

  1. Of the two the novice became the king of the city of Sâgala in India, Milinda by name, learned, eloquent, wise, and able; and a faithful observer, and that at the right time, of all the various acts of devotion and ceremony enjoined by his own sacred hymns concerning things past, present, and to come. Many were the arts and sciences he knew–holy tradition and secular law; the Sânkhya, Yoga, Nyâya, and Vaiseshika systems of philosophy; arithmetic; music; medicine; the four Vedas, the Purânas, and the Itihâsas; astronomy, magic, causation 1, and spells; the art of war; poetry; conveyancing 2–in a word, the whole nineteen 3.

Trong hai người ấy, vị sa-di đã trở thành đức vua tên Milinda ở thành Sāgala thuộc xứ Jambudīpa (Ấn Độ), là người sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, có năng lực trong thời quá khứ hiện tại và vị lai, là người hành động có suy xét trong lúc thực hiện mọi công việc rèn luyện và phô diễn. Và vị này có nhiều học thuật đã được học như là: sự hiểu biết do lắng nghe, sách dạy về âm thanh, tính toán, ứng dụng, học thuật về hướng dẫn và phân biệt, thiên văn, âm nhạc, y khoa, bốn bộ Vệ Đà, cổ thư, sử học, chiêm tinh học, ảo thuật, chú thuật, lý luận, chiến đấu, âm luật, hải dương học, và Phật ngôn là mười chín.

 

[4] As a disputant he was hard to equal, harder

Đức vua là nhà tranh luận khó sánh bằng, khó khuất phục,

 p.7

still to overcome; the acknowledged superior of all the founders of the various schools of thought. And as in wisdom so in strength of body, swiftness, and valour there was found none equal to Milinda in all India. He was rich too, mighty in wealth and prosperity, and the number of his armed hosts knew no end.

được xem là hàng đầu trong số đông các vị giáo chủ. Trong toàn cõi xứ Jambudīpa, không có ai sánh bằng đức vua Milinda về sức mạnh, nhanh nhẹn, dũng cảm, và trí tuệ. Đức vua là người giàu sang, có nhiều tài sản, nhiều của cải, vô số binh lực và xe cộ.

 

  1. Now one day Milinda the king proceeded forth out of the city to pass in review the innumerable host of his mighty army in its fourfold array (of elephants, cavalry, bowmen, and soldiers on foot). And when the numbering of the forces was over, the king, who was fond of wordy disputation, and eager for discussion with casuists, sophists 1, and gentry of that sort, looked at the sun (to ascertain the time), and then said to his ministers: ‘The day is yet young. What would be the use of getting back to town so early? Is there no learned person, whether wandering teacher 2 or Brahman, the head of some school or order, or the master of some band of pupils (even though he profess faith

Vào một ngày nọ, đức vua Milinda rời khỏi thành với ước muốn xem xét nơi đóng quân và dàn binh của bốn binh chủng gồm vô số binh lực và xe cộ. Sau khi cho kiểm điểm quân đội ở ngoại thành, đức vua ấy vốn là người mở đầu câu chuyện và hứng thú việc khơi mào cuộc mạn đàm với các triết gia và các nhà ngụy biện, đã nhìn mặt trời rồi nói với các quan đại thần rằng: “Ngày hãy còn dài, chúng ta sẽ làm gì nếu đi vào thành ngay bây giờ? Có vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào là người sáng trí, có hội chúng, có đồ chúng, là giáo thọ sư của tập thể, tự xưng

 p.8

 in the Arahat, the Supreme Buddha), who would be able to talk with me, and resolve my doubts?’

là A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?”

 

  1. Thereupon the five hundred Yonakas said to Milinda the king: ‘There are the six Masters, O king!–Pûrana Kassapa, Makkhali of the cowshed 1, the Nigantha of the Nâta clan, Sañgaya the son of the Belattha woman, Agita of the garment of hair, and Pakudha Kakkâyana. These are well known as famous founders of schools, followed by bands of disciples and hearers, and highly honoured by the people. Go, great king! put to them your problems, and have your doubts resolved 2.’

Khi được nói như vậy, năm trăm người xứ Yonaka[1] đã nói với đức vua rằng: “Tâu đại vương, có sáu vị thầy là Pūraṇa Kassapa, Makkhalī Gosāla, Nigaṇṭha Nātaputta, Sañjaya Bellaṭṭhiputta, Ajita Kesakambalī, Kakudha Kaccāyana.[2] Các vị ấy có hội chúng, có đồ chúng, là giáo thọ sư của tập thể, được biết tiếng, có danh vọng, là các giáo chủ, được nhiều người đánh giá cao. Tâu đại vương, xin đại vương hãy đi đến, hãy hỏi họ câu hỏi, hãy giải tỏa điều nghi hoặc.”

 

  1. So king Milinda, attended by the five hundred Yonakas, mounted the royal car with its splendid equipage, and went out to the dwelling-place of Pûrana Kassapa, exchanged with him the compliments of friendly greeting, and took his seat courteously apart. And thus sitting he said to

Khi ấy, được tháp tùng bởi năm trăm người xứ Yonaka, đức vua Milinda đã bước lên cỗ xe ngựa cao quý, loại phương tiện di chuyển tuyệt hảo, đi đến gặp Pūraṇa Kassapa, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với Pūraṇa Kassapa, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói Pūraṇa Kassapa điều này:

 

  1. 9

 

him:

-‘Who is it, venerable Kassapa, who rules the world?’

-‘The Earth, great king, rules the world!’

– Thưa thầy Kassapa, ai bảo hộ thế gian?

– Tâu đại vương, trái đất bảo hộ thế gian.

 

– ‘But, venerable Kassapa, if it be the Earth that rules the world, how comes it that some men go to the Avîki hell 1, thus getting outside the sphere of the Earth?’ [5]

– Thưa thầy Kassapa, nếu trái đất bảo hộ thế gian, thế thì vì sao chúng sanh đi đến địa ngục vô gián lại đi ngang qua trái đất trước rồi mới đi đến địa ngục vô gián?

 

When he had thus spoken, neither could Pûrana Kassapa swallow the puzzle, nor could he bring it up; crestfallen, driven to silence, and moody 2, there he sat.

Được nói như vậy, Pūraṇa không những đã không thể nuốt trôi mà cũng không thể ói ra được, chỉ ngồi ủ rũ, im lặng, trầm ngâm.

 

  1. Then Milinda the king said to Makkhali of the cowshed 3: ‘Are there, venerable Gosâla, good and evil acts? Is there such a thing as fruit, ultimate result, of good and evil acts?’

Sau đó, đức vua Milinda đã nói với Makkhalī Gosāla điều này: – Thưa thầy Gosāla, có các nghiệp thiện và bất thiện không? Có quả thành tựu của các nghiệp đã được làm tốt và đã được làm xấu không?

 

‘There are no such acts, O king; and no such fruit, or ultimate result. Those who here in the world are nobles, they, O king, when they go to the

– Tâu đại vương, không có các nghiệp thiện và bất thiện, không có quả thành tựu của các nghiệp đã được làm tốt và đã được làm xấu. Tâu đại vương, những người nào ở đời này dòng dõi Sát-đế-lỵ, những người ấy đi

 

  1. 10

 

other world, will become nobles once more. And those who are Brahmans, or of the middle class, or workpeople, or outcasts here, will in the next world become the same. What then is the use of good or evil acts 1? ‘

đến đời sau cũng sẽ là dòng dõi Sát-đế-lỵ. Những người nào dòng dõi Bà-la-môn, thương buôn, nông phu, hạ tiện, hốt rác, những người ấy đi đến đời sau cũng sẽ là dòng dõi Bà-la-môn, thương buôn, nông phu, hạ tiện, hốt rác, thì có điều gì là bởi các nghiệp thiện và bất thiện?

 

‘If, venerable Gosâla, it be as you say then, by parity of reasoning, those who, here in this world, have a hand cut off, must in the next world become persons with a hand cut off, and in like manner those who have had a foot cut off or an ear or their nose!’

– Thưa thầy Gosāla, nếu những người ở đời này là dòng dõi Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, thương buôn, nông phu, hạ tiện, hốt rác, những người ấy đi đến đời sau cũng sẽ là dòng dõi Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, thương buôn, nông phu, hạ tiện, hốt rác, không có điều gì được tạo nên bởi các nghiệp thiện và bất thiện. Thưa thầy Gosāla, như thế thì những người nào ở đời này bị chặt tay thì đi đến đời sau cũng sẽ bị chặt tay, những người nào bị chặt chân thì cũng sẽ bị chặt chân, những người nào bị xẻo tai thì cũng sẽ bị xẻo tai phải không ạ?

 

And at this saying Makkhali was silenced.

Được nói như vậy, Gosāla đã im lặng.

 

  1. Then thought Milinda the king within himself 2: ‘All India is an empty thing, it is verily like chaff! There is no one, either recluse or Brahman, capable of discussing things with me, and dispelling my doubts.’ And he said to his ministers: ‘Beautiful is the night and pleasant! Who is the recluse or Brahman we can visit to-night to question him, who will be able to converse with us and dispel our doubts 3?’ And at that saying the counsellors remained silent, and stood there gazing upon the face of the king.

Khi ấy, đức vua Milinda đã khởi ý điều ý: “Xứ Jambudīpa quả thật trống trơn! Xứ Jambudīpa quả thật vô nghĩa! Không có Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?”

Sau đó, đức vua Milinda đã nói với các quan đại thần rằng: “Đêm trăng trong quả thật đáng yêu! Phải chăng hôm nay chúng ta nên đi đến gặp vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn để hỏi câu hỏi? Vị nào có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?” Được nói như vậy, các quan đại thần đã im lặng, đứng yên, ngước nhìn khuôn mặt của đức vua.

 

  1. Now at that time the city of Sâgala had for twelve years been devoid of learned men, whether Brahmans, Samanas, or laymen. But wherever the king heard that such persons dwelt, thither he would

Vào lúc bấy giờ, thành Sāgala đã vắng bóng các Sa-môn, Bà-la-môn, gia chủ sáng trí trong mười hai năm. Nghe tin “các vị Sa-môn, Bà-la-môn, gia chủ sáng trí trú ngụ” ở nơi nào, đức vua

 

  1. 11

 

go and put his questions to them 1. [6] But they all alike, being unable to satisfy the king by their solution of his problems, departed hither and thither, or if they did not leave for some other place, were at all events reduced to silence. And the brethren of the Order went, for the most part, to the Himâlaya Mountains.

đi đến nơi ấy và hỏi các vị ấy câu hỏi. Không có khả năng để làm hài lòng đức vua với câu trả lời cho câu hỏi, tất cả các vị ấy ra đi đến nơi này hoặc nơi khác. Những người nào không ra đi đến phương trời khác, tất cả bọn họ ở lại, giữ thái độ im lặng. Còn các vị tỳ khưu, phần đông thì đi đến dãy Hi-mã-lạp-sơn.

 

  1. Now at that time there dwelt, in the mountain region of the Himâlayas, on the Guarded Slope, an innumerable company of Arahats (brethren who, while yet alive, had attained Nirvâna). And the venerable Assagutta, by means of his divine power of hearing, heard those words of

king Milinda. And he convened an assembly of the Order on the summit of the Yugandhara Mountain, and asked the brethren: ‘Is there any member of the Order able to hold converse with Milinda the king, and resolve his doubts?’

Vào lúc bấy giờ, có một trăm koṭi (một tỷ) vị A-la-hán cư ngụ tại cao nguyên Rakkhita, núi Hi-mã-lạp.

Lúc đó, đại đức Assagutta với thiên nhĩ giới đã nghe được lời nói của đức vua Milinda. Ngài đã cho triệu tập hội chúng tỳ khưu tại đỉnh núi Yugandhara và đã hỏi các vị tỳ khưu rằng: “Này các sư đệ, có vị tỳ khưu nào có năng lực để chuyện trò với đức vua Milinda để giải tỏa điều nghi hoặc?”

 

Then were they all silent. And a second and a third time he put the same question to them, and still none of all the number spake. Then he said to the assembled Order: ‘There is, reverend Sirs, in the heaven of the Thirty-three 2, and east of the Vegayanta palace, a mansion called Ketumatî, wherein dwells the god Mahâsena. He is able to hold converse with Milinda the king, and to resolve his doubts.’ And the innumerable company of

 

  1. 12

 

[paragraph continues]

Arahats vanished from the summit of the Yugandhara Mountain, and appeared in the heaven of the Thirty-three.

Được nói như vậy, một trăm koṭi vị A-la-hán đã im lặng. Các vị đã im lặng khi được hỏi đến lần thứ nhì, đến lần thứ ba. Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với hội chúng tỳ khưu điều này: “Này các sư đệ, ở cõi trời Đao Lợi, về phía đông của lâu đài Vejayanta, có cung điện tên là Ketumatī. Nơi ấy, có vị Thiên tử tên Mahāsena cư ngụ. Vị ấy có năng lực để chuyện trò với đức vua Milinda để giải tỏa điều nghi hoặc.” Khi ấy, một trăm koṭi vị A-la-hán đã biến mất ở ngọn núi Yugandhara và hiện ra ở cõi trời Đao Lợi.

 

  1. And Sakka, the king of the gods, beheld those brethren of the Order as they were coming from afar. And at the sight of them he went up to the venerable Assagutta, and bowed down before him, and stood reverently aside. And so standing he said to him: ‘Great, reverend Sir, is the company of the brethren that has come. What is it that they want? I am at the service of the Order. What can I do for you?’

Thiên chủ Sakka đã nhìn thấy các vị tỳ khưu ấy từ đàng xa đang tiến đến, sau khi nhìn thấy đã đi đến gặp đại đức Assagutta, sau khi đi đến đã đảnh lễ đại đức Assagutta rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, Thiên chủ Sakka đã nói với đại đức Assagutta điều này: “Bạch ngài, đại chúng tỳ khưu đã ngự đến. Tôi là người của tu viện của hội chúng. Có nhu cầu về điều gì? Có việc gì tôi cần phải làm?”

 

And the venerable Assagutta replied: ‘There is, O king, in India, in the city of Sâgala, a king named Milinda. As a disputant he is hard to equal, harder still to overcome, he is the acknowledged superior of all the founders of the various schools of thought. He is in the habit of visiting the members of the Order and harassing them by questions of speculative import.’

Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với Thiên chủ Sakka điều này: “Tâu đại vương, vị vua này tên Milinda tại thành Sāgala, xứ Jambudīpa, là nhà tranh luận khó sánh bằng, khó khuất phục, được xem là hàng đầu trong số đông các vị giáo chủ. Ông ta đi đến gặp hội chúng tỳ khưu hỏi câu hỏi theo học thuyết về tà kiến và đã gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu.”

 

Then said Sakka, the king of the gods, to him: ‘That same king Milinda, venerable one, left this condition to be born as a man. And there dwells in the mansion Ketumatî a god, Mahâsena by name, who is able to hold converse with him and to resolve his doubts. [7] That god we will beseech to suffer himself to be reborn into the world of men.’

Khi ấy, Thiên chủ Sakka đã nói với đại đức Assagutta điều này: “Bạch ngài, vị vua Milinda này đã chết đi từ nơi này rồi tái sanh vào loài người. Bạch ngài, có vị Thiên tử này tên là Mahāsena cư ngụ ở cung điện Ketumatī. Vị ấy có năng lực để chuyện trò với đức vua Milinda để giải tỏa điều nghi hoặc. Chúng ta sẽ thỉnh cầu vị Thiên tử ấy về việc tái sanh vào thế giới loài người.”

 

  1. So Sakka, the king of the gods, preceded by the Order, entered the Ketumatî mansion; and when he had embraced Mahâsena the god, he said to him: ‘The Order of the brethren, Lord, makes this request of you-to be reborn into the world of men.’

Khi ấy, Thiên chủ Sakka đã dẫn đầu hội chúng tỳ khưu đi vào cung điện Ketumatī, ôm chầm lấy Thiên tử Mahāsena rồi đã nói điều này: “Này Thiên tử, hội chúng tỳ khưu thỉnh cầu Thiên tử về việc tái sanh vào thế giới loài người.”

 

‘I have no desire, Sir, for the world of men, so overladen with action (Karma). Hard is life as a

 

  1. 13

 

man. It is here, Sir, in the world of the gods that, being reborn in ever higher and higher spheres, I hope to pass away!’

“Bạch ngài, tôi không có mục đích gì ở thế giới loài người. Thế giới loài người là căng thẳng bởi nhiều công việc. Bạch ngài, tôi sẽ là người lần lượt chứng đạt cao hơn rồi sẽ Niết-bàn ngay tại đây, nơi Thiên giới.”

 

And a second and a third time did Sakka, the king of the gods, make the same request, and the reply was still the same.

Trong khi Thiên chủ Sakka thỉnh cầu đến lần thứ nhì, đến lần thứ ba, Thiên tử Mahāsena cũng đã nói như vầy: “Bạch ngài, tôi không có mục đích gì ở thế giới loài người. Thế giới loài người là căng thẳng bởi nhiều công việc. Bạch ngài, tôi sẽ là người lần lượt chứng đạt cao hơn rồi sẽ Niết-bàn ngay tại đây, nơi Thiên giới.”

 

Then the venerable Assagutta addressed Mahâsena the god, and said: ‘On passing in review, Lord, the worlds of gods and men, there is none but thee that we find able to succour the faith by refuting the heretical views of Milinda the king. The whole Order beseeches thee, Lord, saying: “Condescend, O worthy one, to be reborn among men, in order to lend to the religion of the Blessed One thy powerful aid.”‘

Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với Thiên tử Mahāsena điều này: “Thưa Thiên tử, trong lúc xem xét thế gian này gồm cả chư Thiên, chúng tôi nhận thấy rằng không ai khác ngoại trừ ngài có được khả năng để đập đổ luận thuyết của đức vua Milinda để nâng đỡ Giáo Pháp. Thưa Thiên tử, hội chúng tỳ khưu thỉnh cầu ngài. Lành thay, bậc thiện nhân! Xin ngài hãy hạ sanh vào thế giới loài người, xin ngài hãy nâng đỡ và ban bố Giáo Pháp của đấng Thập Lực.”

 

Then was Mahâsena the god overjoyed and delighted in heart at the thought that he would be able to help the faith by refuting the heresy of Milinda; and he gave them his word, and said: ‘Very well then, venerable ones, I consent to be reborn in the world of men,’

Được nói như vậy, Thiên tử Mahāsena (nghĩ rằng): “Nghe nói ta sẽ có khả năng để đập đổ luận thuyết của đức vua Milinda để nâng đỡ Giáo Pháp” đã trở nên mừng rỡ, phấn chấn, rất là phấn khởi, và đã bày tỏ sự chấp thuận: “Bạch đại đức, thật tốt đẹp thay! Tôi sẽ tái sanh vào thế giới loài người.”

 

  1. Then the brethren, having thus accomplished the task they had taken in hand, vanished from the heaven of the Thirty-three, and reappeared on the Guarded Slope in the Himâlaya Mountains. And the venerable Assagutta addressed the Order, and said: ‘Is there, venerable ones, any brother belonging to this company of the Order, who has not appeared in the assembly?’

Sau đó, khi đã hoàn thành công việc cần làm ở Thiên giới, các vị tỳ khưu ấy đã biến mất giữa chư Thiên ở cõi trời Đao Lợi và hiện ra ở cao nguyên Rakkhita, núi Hi-mã-lạp. Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với hội chúng tỳ khưu điều này: “Này các sư đệ, trong hội chúng tỳ khưu có vị tỳ khưu nào đã không đi đến cuộc hội họp?”

 

Thereupon a certain brother said there was, that Rohana had a week previously gone into the mountains, and become buried in meditation, [8] and suggested that a messenger should be sent to him. And at that very moment the venerable Rohana aroused himself from his meditation, and was aware

 

  1. 14

 

that the Order was expecting him 1. And vanishing from the mountain top, he appeared in the presence of the innumerable company of the brethren.

Được nói như vậy, có vị tỳ khưu nọ đã nói với đại đức Assagutta điều này: “Bạch ngài, có đại đức Rohaṇa cách đây bảy ngày đã đi vào núi Hi-mã-lạp và nhập thiền diệt, xin ngài hãy phái sứ giả đi đến gặp vị ấy.” Đúng vào giây phút ấy, đại đức Rohaṇa cũng vừa xuất khỏi thiền diệt (biết rằng): “Hội chúng chờ đợi ta” nên đã biến mất ở núi Hi-mã-lạp và hiện ra ở cao nguyên Rakkhita, phía trước một trăm koṭi vị A-la-hán.

 

And the venerable Assagutta said to him: ‘How now, venerable Rohana! When the religion of the Buddha is in danger of crumbling away, have you no eyes for the work of the Order?’

  • ‘It was through inadvertence, Sir,’ said he.
  • ‘Then, venerable Rohana, atone for it.’
  • ‘What, Sir, should I do?’

 

‘There is a Brahman village, venerable Rohana, called Kagangala 2, at the foot of the Himâlaya Mountains, and there dwells there a Brahman called Sonuttara. He will have a son called Nâgasena. Go to that house for alms during seven years and ten months. After the lapse of that time, thou shalt draw away the boy from a worldly life, and cause him to enter the Order. When he shall have abandoned the world, then shalt thou be free of the atonement for thy fault.’

Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với đại đức Rohaṇa điều này: – Này sư đệ Rohaṇa, trong khi lời dạy của đức Phật đang suy tàn, không lẽ đệ không nhận thấy các việc cần phải làm của hội chúng?

– Bạch ngài, tôi đã thiếu sự quan tâm.

– Này sư đệ Rohaṇa, chính vì điều ấy đệ hãy thực hành hình phạt.

– Bạch ngài, tôi sẽ làm gì?

– Này sư đệ Rohaṇa, ở sườn núi Hi-mã-lạp có ngôi làng Bà-la-môn tên là Kajaṅgalā. Người Bà-la-môn tên Sonuttara cư ngụ tại nơi đó. Người con trai của ông sẽ được sanh ra; đứa bé trai tên là Nāgasena. Này sư đệ Rohaṇa, chính vì điều ấy đệ hãy đi vào khất thực ở gia đình ấy trong thời gian bảy năm mười tháng. Sau khi đi vào khất thực, đệ hãy tiếp độ đứa bé trai Nāgasena rồi cho xuất gia. Và khi đứa bé trai đã xuất gia thì đệ sẽ được thoát khỏi hình phạt.

 

‘Let it be even as thou sayest,’ said the venerable Rohana in assent.

Vị ấy đã nói như vậy. Đại đức Rohaṇa cũng đã chấp thuận rằng: “Lành thay!”

 

  1. Now Mahâsena the god passed away from the world of the gods, and was reborn in the womb of the wife of the Brahman Sonuttara. And at the moment of his conception three strange, wonderful things took place:–arms and weapons became all

 

  1. 15

 

ablaze, the tender grain became ripe in a moment, and there was a great rain (in the time of drought).

Còn về Thiên tử Mahāsena sau khi từ Thiên giới chết đi đã chấp nhận sự tiếp nối (tái sanh) trong bụng người vợ của Bà-la-môn Sonuttara. Có ba điều kỳ diệu phi thường đã xuất hiện cùng lúc với việc chấp nhận sự tiếp nối (tái sanh): Các vật dụng chiến đấu đã phát lên ngọn lửa, trái cây đầu mùa chín tới, có đám mây lớn đã đổ mưa.

 

And the venerable Rohana went to that house for alms for seven years and ten months from the day of Mahâsena’s re-incarnation, but never once did he receive so much as a spoonful of boiled rice, or a ladleful of sour gruel, or a greeting, or a stretching forth of the joined hands, or any sort of salutation. Nay rather it was insults and taunts that fell to his share: and there was no one who so much as said, Be so good, ‘Sir, as to go on to the next house 1.’

Về phần đại đức Rohaṇa, kể từ việc chấp nhận sự tiếp nối (tái sanh) của vị Thiên tử, trong khi đi vào khất thực ở gia đình ấy trong thời gian bảy năm mười tháng, đã không nhận được một muỗng cơm, hay là một vá canh, hoặc là sự đảnh lễ, sự chắp tay, hay là hành động thích hợp, dầu là một ngày. Khi ấy, đại đức đã nhận được chỉ là sự chửi rủa, chỉ là sự mắng nhiếc. Dầu là chút ít lời nói: “Này ông, ông hãy đi đi” cũng đã không có người nói.

 

But when all that period had gone by he one day happened to have those very words addressed to him. And on that day the Brahman, on his way back from his work in the fields, [9] saw the Elder as he met him on his return, and said: ‘Well, hermit, have you been to our place?

  • ‘Yes, Brahman, I have.’
  • ‘But did you get anything there?’
  • ‘Yes, Brahman, I did.’

 

And he was displeased at this, and went on home, and asked them: ‘Did you give anything to that hermit?’

 

  • ‘We gave him nothing,’ was the reply.

Tuy nhiên, khi đã đến hạn kỳ bảy năm mười tháng, vào một ngày nọ đại đức đã nhận được chút ít lời nói: “Này ông, ông hãy đi đi.”[3] Đúng vào ngày hôm ấy, cũng chính người Bà-la-môn, trong khi đi trở về do công việc bên ngoài, đã gặp vị trưởng lão ở lối ngược chiều và đã nói rằng: – Này ông xuất gia, ông đã đi đến nhà của chúng tôi chưa?

– Này ông Bà-la-môn, đúng vậy. Tôi đã đi đến.

– Vậy có phải ông đã nhận được cái gì đó?

– Này ông Bà-la-môn, đúng vậy. Tôi đã nhận được.

Người Bà-la-môn với tâm ý hoan hỷ[4] đã đi về nhà và hỏi rằng: “Mấy người đã cho vị xuất gia ấy vật gì đó phải không?” – “Chúng tôi đã không cho bất cứ vật gì.”

 

  1. Thereupon the Brahman, the next day, seated himself right in the doorway, thinking to himself: ‘To-day I’ll put that hermit to shame for having told a lie.’ And the moment that the Elder in due course came up to the house again, he said: ‘Yesterday you said you had got something at my house, having

 

  1. 16

 

all the while got nothing! Is lying allowed to you fellows?’

Vào ngày kế, người Bà-la-môn đã ngồi ngay tại cửa nhà (nghĩ rằng): “Hôm nay, ta sẽ bắt bẻ vị xuất gia về việc nói dối.” Vào ngày kế, vị trưởng lão đã đến tại cửa nhà của người Bà-la-môn. Sau khi nhìn thấy vị trưởng lão, người Bà-la-môn đã nói như vầy: “Hôm qua, ông đã không nhận được bất cứ vật gì ở nhà chúng tôi mà lại nói là ‘Đã nhận được.’ Chẳng lẽ nói dối là thích đáng đối với các ông hay sao?”

 

And the Elder replied: ‘Brahman, for seven years and ten months no one even went so far as to suggest politely that I should pass on. Yesterday this courtesy was extended to me. It was to that that I referred.’

Vị trưởng lão đã nói rằng: “Này ông Bà-la-môn, trong bảy năm mười tháng chúng tôi đã không nhận được ở nhà của ông dầu là chút ít lời nói: ‘Này ông, ông hãy đi đi,’ còn hôm qua tôi đã nhận được chút ít lời nói: ‘Này ông, ông hãy đi đi.’ Vì có liên quan đến chút ít lời nói nhã nhặn này mà tôi đã nói như thế.”

 

The Brahman thought to himself: ‘If these men, at the mere experience of a little courtesy, acknowledge in a public place, and with thanks, that they have received an alms, what will they not do if they really receive a gift!’ And he was much struck by this, and had an alms bestowed upon the Elder from the rice and curry prepared for his own use, and added furthermore: ‘Every day you shall receive here food of the same kind.’ And having watched the Elder as he visited the place from that day onwards, and noticed how subdued was his demeanour, he became more and more pleased with him, and invited him to take there regularly his midday meal. And the Elder gave, by silence, his consent; and daily from that time forth, when he had finished his meal, and was about to depart, he would pronounce some short passage or other from the words of the Buddha 1.

Người Bà-la-môn đã suy nghĩ rằng: “Những người này sau khi nhận được dầu là chút ít lời nói nhã nhặn mà lại ca tụng ở giữa mọi người là: ‘Chúng tôi đã nhận được.’ Vậy thì sau khi nhận được bất cứ loại vật thực cứng hoặc vật thực mềm nào khác, vì lẽ gì mà họ lại không ca tụng?” Sau khi phát khởi niềm tin, ông ta đã bảo bố thí một muỗng cơm và thức ăn phù hợp từ bữa cơm được chuẩn bị sẵn cho việc sử dụng của bản thân, rồi đã nói rằng: “Ngài sẽ nhận được vật thực này vào mọi lúc.” Kể từ ngày kế, sau khi nhìn thấy sự trầm tĩnh của vị trưởng lão trong khi đi đến, người Bà-la-môn càng phát khởi niềm tin nhiều hơn nữa và đã thỉnh cầu vị trưởng lão việc thọ thực bữa ăn tại nhà của mình một cách thường xuyên. Vị trưởng lão đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Mỗi một ngày, sau khi làm phận sự về thọ thực, trong khi từ giã vị trưởng lão đều thuyết giảng chút ít Phật ngôn rồi mới ra đi.

 

  1. Now the Brahman’s wife had, after her ten months, brought forth her son; and they called his name Nâgasena. He grew up in due course till he became seven years old, and his father said to the child: ‘Do you want, [10] dear Nâgasena, to study the learning traditional in this Brahmanical house of ours?’

 

  1. 17

 

  • ‘What is it called, father?’ said he.
  • ‘The three Vedas are called learning (Sikkhâ), other kinds of knowledge are only arts, my dear.’
  • ‘Yes, I should like to learn them, father,’ said the boy.

Quả nhiên, đến hạn kỳ mười tháng người nữ Bà-la-môn ấy cũng đã sanh ra người con trai. Tên của đứa bé đã là “Nāgasena.” Đứa bé từ từ lớn lên, và đã sanh được bảy năm. Khi ấy, người cha của đứa bé trai Nāgasena đã nói với đứa bé trai Nāgasena điều này:

– Này Nāgasena thương, con cần phải học các môn học ở gia tộc Bà-la-môn này.

– Cha yêu quý, những điều gì gọi là các môn học ở gia tộc Bà-la-môn này?

– Này Nāgasena thương, ba bộ Vệ Đà gọi là các môn học. Các học thuật còn lại gọi là học thuật.

– Cha yêu quý, như thế thì con sẽ học.

 

Then Sonuttara the Brahman gave to a Brahman teacher a thousand pieces as his teaching fee, and had a divan spread for him aside in an inner chamber, and said to him:

  • ‘Do thou, Brahman, teach this boy the sacred hymns by heart.’

So the teacher made the boy repeat the hymns, urging him to get them by heart. And young Nâgasena, after one repetition of them, had learnt the three Vedas by heart, could intone them correctly, had understood their meaning, could fix the right place of each particular verse 1, and had grasped the mysteries they contained 2. All at once there arose in him an intuitive insight into the Vedas, with a knowledge of their lexicography, of their prosody, of their grammar, and of the legends attaching to the characters in them. He became a philologist and grammarian, and skilled alike in casuistry and in the knowledge of the bodily marks that foreshadow the greatness of a man 3.

Sau đó, người Bà-la-môn Sonuttara đã trao một ngàn đồng là phần lương của vị thầy cho người thầy giáo Bà-la-môn, rồi cho sắp xếp cái giường nhỏ ở một bên tại một căn phòng bên trong tòa nhà dài, rồi đã nói với người thầy giáo Bà-la-môn điều này:

– Thưa vị Bà-la-môn, thầy hãy cho đứa bé trai này đọc tụng các chú thuật.

– Này bé trai thương, như thế thì con hãy học các chú thuật.

Rồi người thầy giáo Bà-la-môn đọc tụng. Đối với đứa bé trai Nāgasena, chỉ với một lần đọc thì ba bộ Vệ Đà đã được đi vào tâm, đạt được giọng, khéo được nắm bắt, khéo được xác định, khéo được tác ý. Chỉ cần một lần, kiến thức về ba bộ Vệ Đà cùng các từ vựng và nghi thức, luôn cả âm từ với sự phân tích, và truyền thống là thứ năm, đã sanh khởi đến đứa bé. Nó đã biết về cú pháp, về văn phạm, và đã không thiếu về phần triết học và các tướng trạng của bậc đại nhân.

 

  1. Then young Nâgasena said to his father: ‘Is

 

  1. 18

 

there anything more to be learned in this Brahmanical family of ours, or is this all?’

  • ‘There is no more, Nâgasena, my dear. This is all,’ was the reply.

And young Nâgasena repeated his lesson to his teacher for the last time, and went out of the house, and in obedience to an impulse arising in his heart as the result of previous Karma, sought a place of solitude, where he gave himself up to meditation. And he reviewed what he had learnt throughout from beginning to end, and found no value in it anywhere at all. And he exclaimed in bitterness of soul: ‘Empty forsooth are these Vedas, and as chaff. There is in them neither reality, nor worth, nor essential truth!’

Khi ấy, đứa bé trai Nāgasena đã nói với người cha điều này:

– Cha yêu quý, ở gia tộc Bà-la-môn này còn có các môn cần phải học nào thù thắng hơn thế này, hay là chỉ chừng này thôi?

– Này Nāgasena thương, ở gia tộc Bà-la-môn này không còn có các môn cần phải học nào thù thắng hơn thế này. Chỉ chừng này là cần phải học thôi.

Sau đó, khi đã trả lời cuộc kiểm tra của thầy giáo, đứa bé trai Nāgasena đã từ tòa nhà dài bước xuống, tâm tự khiển trách về cuộc sống trong thời gian qua, rồi đã đi đến nơi thanh vắng trầm tư. Trong khi xem xét phần đầu, phần giữa, và phần cuối đối với học thuật của mình, nó đã không nhìn thấy cốt lõi, dầu là chút ít, ở phần đầu, phần giữa, hay phần cuối. (Nghĩ rằng): “Các bộ Vệ Đà này quả là rỗng không! Các bộ Vệ Đà này quả thật vô nghĩa, không có cốt lõi, thiếu đi cốt lõi!” nó đã trở nên ân hận, không hoan hỷ.

 

That moment the venerable Rohana, seated at his hermitage at Vattaniya, felt in his mind what was passing in the heart of Nâgasena. And he robed himself, and taking his alms-bowl in his hand, he vanished from Vattaniya and appeared near the Brahman village Kagangala. And young Nâgasena, as he stood again in the doorway, saw him coming in the distance. At the sight of him he became happy and glad, and a sweet hope sprang up in his heart that from him he might learn the essential truth. And he went [11] to him, and said:

  • ‘Who art thou, Sir, that thou art thus bald-headed, and wearest yellow robes?’
  • ‘They call me a recluse, my child’ (Pabbagita: literally, ‘one who has abandoned;’ that is, the worldly life).
  • ‘And why do they call thee “one who has abandoned?”‘
  • ‘Because a recluse is one who has receded from

 

  1. 19

 

the world in order to make the stain of sinful things recede. It is for that reason, my child, that they call me a recluse.’

Vào lúc bấy giờ, đại đức Rohaṇa ngồi tại trú xứ Vattaniya đã dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đứa bé trai Nāgasena, nên đã quấn y, trùm y, rồi cầm lấy bình bát và y biến mất ở trú xứ Vattaniya rồi hiện ra ở phía trước ngôi làng Bà-la-môn Kajaṅgalā. Đứa bé trai Nāgasena, đứng ở cánh cổng ra vào căn nhà của mình, đã nhìn thấy đại đức Rohaṇa từ đàng xa đang đi lại, sau khi nhìn thấy đã hoan hỷ, phấn khởi, vui mừng, sanh tâm phỉ lạc (nghĩ rằng): “Có lẽ vị xuất gia này có thể biết được cái gì đó là cốt lõi” nên đã đi đến gần đại đức Rohaṇa, sau khi đến gần đã nói với đại đức Rohaṇa điều này:

– Thưa ông, ông là ai mà cạo đầu mặc y ca-sa như vầy?

– Này cậu bé, ta được gọi là bậc xuất gia.

– Thưa ông, với việc gì mà ông được gọi là bậc xuất gia?

– Là bậc xuất gia để loại bỏ các điều ô nhiễm xấu xa. Này cậu bé, với điều ấy mà ta được gọi là bậc xuất gia.

 

  • ‘Why, Sir, dost thou not wear hair as others do?’

 

– ‘A recluse shaves off his hair and beard on the recognition of the sixteen impediments therein to the higher life. And what are those sixteen 1? The impediments of ornamenting it, and decking it out, of putting oil upon it, of shampooing it, of placing garlands round it, of using scents and unguents, and myrobalan seeds, and dyes, and ribbons, and combs, of calling in the barber, of unravelling curls, and of the possibility of vermin. When their hair falls off they are grieved and harassed; yea, they lament sometimes, and cry, and beat their breasts, or fall headlong in a swoon–and entangled by these and such impediments men may forget those parts of wisdom or learning which are delicate and subtle.’

– Thưa ông, vì lý do gì mà tóc của ông không giống như (tóc) của những người khác?

– Này cậu bé, sau khi nhìn thấy mười sáu điều vướng bận này, ta đã cạo bỏ râu tóc trở thành bậc xuất gia. Mười sáu điều gì? Sự vướng bận về trang điểm, sự vướng bận về trau chuốt, sự vướng bận về xức dầu, sự vướng bận về gội rửa, sự vướng bận về tràng hoa, sự vướng bận về chất thơm, sự vướng bận về thuốc bôi, sự vướng bận về thuốc harīṭaka, sự vướng bận về thuốc āmalaka, sự vướng bận về nhuộm tóc, sự vướng bận về buộc tóc, sự vướng bận về chải tóc, sự vướng bận về thợ hớt tóc, sự vướng bận về gỡ tóc rối, sự vướng bận về chấy rận, khi các sợi tóc bị rụng nhiều người buồn rầu, than vãn, rên rỉ, đấm ngực khóc lóc, rơi vào mê muội. Này cậu bé, bị rối rắm trong mười sáu điều vướng bận này, loài người xao lãng tất cả các học thuật vô cùng tinh tế.

 

  • ‘And why, Sir, are not thy garments, too, as those of other men?’

–    ‘Beautiful clothes, my boy, such as are worn by worldly men, are inseparable from the five cravings 2. But whatsoever dangers lurk in dress he who wears the yellow robes knows nothing of. It is for that reason that my dress is not as other men’s.’

– ‘Dost thou know, Lord, what is real knowledge?’

– ‘Yes, lad, the real knowledge I know; and what is the best hymn (mantra) in the world, that too I know.’

– ‘Couldst thou teach it, Lord, to me too?’

 

  1. 20

 

  • ‘Yes, I could.’
  • ‘Teach me, then.’
  • ‘Just now is not the right time for that; we, have come down to the village for alms.’

– Thưa ông, vì lý do gì mà ngay cả các vải quàng của ông cũng không giống như (các vải quàng) của những người khác?

– Này cậu bé, các vải quàng xinh đẹp, được nương tựa vào lòng ham muốn, là các biểu hiện của hàng tại gia. Những lo sợ nào đó được sanh lên từ vải vóc, những điều ấy không có ở việc mặc vải ca-sa. Vì điều ấy mà ngay cả các vải quàng của ta cũng không giống như (các vải quàng) của những người khác.

– Thưa ông, ông có biết cái gọi là các học thuật?

– Này cậu bé, có chứ. Ta biết các học thuật. Chú thuật hạng nhất ở thế gian, ta cũng biết.

– Thưa ông, có thể nào ban điều ấy cho tôi không?

– Này cậu bé, được chứ. Có thể.

– Như thế thì ông hãy ban cho tôi đi.[5]

– Này cậu bé, không phải lúc. Chúng ta hãy đi khất thực ở xóm nhà.

 

  1. Then young Nâgasena took the alms-bowl the venerable Rohana was carrying, and led him into the house, and with his own hand supplied him with food, hard and soft, as much as he required. And when he saw that he had finished his meal, and withdrawn his hand from the bowl, he said to him: ‘Now, Sir, will you teach me that hymn?’

Khi ấy, đứa bé trai Nāgasena đã cầm lấy bình bát từ tay của đại đức Rohaṇa rồi hướng dẫn đi vào nhà, sau đó đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Rohaṇa với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đại đức Rohaṇa đã thọ thực xong, bàn tay đã rời khỏi bình bát, cậu bé đã nói điều này: “Thưa ông, bây giờ ông hãy ban chú thuật cho tôi đi.”

 

‘When thou hast become free from impediments, my lad, by taking upon thee, and with thy parents’ consent, the hermit’s dress I wear, then I can teach it thee.’

“Này cậu bé, khi nào con không còn sự vướng bận, và thuyết phục được mẹ cha cho phép, rồi khoác vào hình tướng xuất gia mà ta đã đạt được, đến khi ấy ta sẽ ban cho,” vị trưởng lão đã đáp lại.

 

  1. So young [12] Nâgasena went to his father and mother, and said: ‘This recluse says he knows the best hymn in the world, but that he cannot teach it to any one who has not entered the Order as his pupil. I should like to enter the Order and learn that hymn.’

Sau đó, đứa bé trai Nāgasena đã đi đến gặp mẹ cha và nói rằng: “Thưa mẹ cha, vị xuất gia này nói rằng: ‘Ta biết chú thuật hạng nhất ở thế gian.’ Nhưng ông không ban cho kẻ không xuất gia trong sự chứng minh của mình. Con sẽ xuất gia trong sự chứng minh của vị này và sẽ học chú thuật ấy.”

 

And his parents gave their consent; for they wished him to learn the hymn, even at the cost of retiring from the world; and they thought that when he had learned it he would come back again 1.

Khi ấy, mẹ cha của đứa bé nghĩ rằng: “Hãy để cho con trai của chúng ta cũng xuất gia rồi học chú thuật. Học xong rồi thì quay trở về,” và đã cho phép rằng: “Này con, hãy học đi.”

 

Then the venerable Rohana took Nâgasena to the Vattaniya hermitage, to the Vigamba Vatthu, and having spent the night there, took him on to the Guarded Slope, and there, in the midst of the innumerable company of the Arahats, young Nâgasena was admitted, as a novice, into the Order.

Sau đó, đại đức Rohaṇa đã dẫn đứa bé trai Nāgasena đi đến trú xứ Vattaniya, rồi Vijambhavatthu, sau khi đi đến trú xứ Vijambhavatthu đã ngụ lại một đêm rồi đi đến cao nguyên Rakkhita, sau khi đi đến đã cho đứa bé trai Nāgasena xuất gia giữa một trăm koṭi vị A-la-hán.

 

  1. 21

 

  1. And then, when he had been admitted to the Order, the venerable Nâgasena said to the venerable Rohana: ‘I have adopted your dress; now teach me that hymn.’

Và khi đã được xuất gia, đại đức Nāgasena đã nói với đại đức Rohaṇa điều này: “Bạch ngài, hình tướng của ngài con đã đạt được. Bây giờ xin ngài hãy ban chú thuật cho con.”

 

Then the venerable Rohana thought thus to himself: ‘In what ought I first to instruct him, in the Discourses (Suttanta) or in the deeper things of the faith (Abhidhamma)?’ and inasmuch as he saw that Nâgasena was intelligent, and could master the Abhidhamma with ease, he gave him his first lesson in that.

Khi ấy, đại đức Rohaṇa đã suy nghĩ rằng: “Ta nên hướng dẫn Nāgasena cái gì trước, Kinh hay Vi Diệu Pháp?” rồi đã hướng dẫn Vi Diệu Pháp trước (nghĩ rằng): “Nāgasena này quả là sáng trí, có thể học Vi Diệu Pháp một cách thoải mái.”

 

And the venerable Nâgasena, after hearing it repeated but once, knew by heart the whole of the Abhidhamma–that is to say, the Dhamma Sangani, with its great divisions into good, bad, and indifferent qualities, and its subdivisions into couples and triplets 1–the Vibhanga, with its eighteen chapters, beginning with the book on the constituent elements of beings–the Dhâtu Kathâ, with its fourteen books, beginning with that on compensation and non-compensation–the Puggala. Paññatti, with its six divisions into discrimination of the various constituent elements, discrimination of the various senses and of the properties they apprehend, and so on 2–the Kathâ Vatthu, with its thousand sections, five hundred on as many points

 

  1. 22

 

of our own views, and five hundred on as many points of our opponents’ views–the Yamaka, with its ten divisions into complementary propositions as to origins, as to constituent elements, and so on–and the Patthâna, with its twenty-four chapters on the reason of causes, the reason of ideas, and the rest. And he said [13]: ‘That will do, Sir. You need not propound it again. That will suffice for my being able to rehearse it.’

Và đại đức Nāgasena chỉ với một lần đọc đã rành rẽ tất cả Tạng Vi Diệu Pháp ấy (tức là) bộ Dhammasaṅgaṇī (Pháp Tụ) gồm có nhóm ba, nhóm hai như là “các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký,” bộ Vibhaṅga (Phân Tích) gồm có mười tám chương phân tích khởi đầu là chương Phân Tích về Uẩn, bộ Dhātukathā (Chất Ngữ) được phân loại thành mười bốn phần khởi đầu là phần “yếu hiệp bất yếu hiệp,” bộ Puggalapaññatti (Nhân Chế Định) được phân loại thành sáu phần khởi đầu là phần “uẩn chế định, xứ chế định,” bộ Kathāvatthu (Ngữ Tông) được phân loại sau khi đã tổng hợp một ngàn bài giảng: “năm trăm bài giảng về học thuyết của phái mình, năm trăm bài giảng về học thuyết của phái khác,” bộ Yamaka (Song Đối) được phân loại thành mười phần khởi đầu là phần “căn song, uẩn song,” bộ Paṭṭhāna (Vị Trí) được phân loại thành hai mươi bốn phần khởi đầu là phần “nhân duyên, cảnh duyên.” Đại đức Nāgasena đã nói rằng: “Bạch ngài, xin hãy dừng lại. Chớ giảng thêm nữa. Con sẽ đọc chỉ với chừng này.”

 

  1. Then Nâgasena went to the innumerable company of the Arahats, and said: ‘I should like to propound the whole of the Abhidhamma Pitaka, without abridgement, arranging it under the three heads of good, bad, and indifferent qualities.’ And they gave him leave.

Sau đó, đại đức Nāgasena đã đi đến gặp một trăm koṭi vị A-la-hán, sau khi đi đến đã nói với một trăm koṭi vị A-la-hán điều này: “Bạch các ngài, sau khi xếp vào trong ba câu này là ‘các pháp thiện, các pháp bất thiện, các pháp vô ký,’ con sẽ giảng chi tiết toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp.”

– Nāgasena, lành thay! Con hãy giảng.

 

And in seven months the venerable Nâgasena recited the seven books of the Abhidhamma in full. And the earth thundered, the gods shouted their applause, the Brahma gods clapped their hands, and there came down a shower from heaven of sweet-scented sandal-wood dust, and of Mandârava flowers!

Khi ấy, đại đức Nāgasena đã giảng chi tiết bảy bộ sách trong bảy tháng. Quả đất đã gầm lên. Chư Thiên đã ban lời tán thưởng: “Lành thay!” Các Phạm Thiên đã vỗ tay. Các bột trầm hương của cõi trời và các bông hoa mạn-đà-la của cõi trời đã đổ mưa.

 

And the innumerable company of the Arahats, then and there at the Guarded Slope, admitted the venerable Nâgasena, then twenty years of age, to full membership in the higher grade of the Order.

Sau đó, khi đại đức Nāgasena được tròn đủ hai mươi tuổi, một trăm koṭi vị A-la-hán đã cho tu lên bậc trên ở cao nguyên Rakkhita.

 

  1. Now the next day after he had thus been admitted into full membership in the Order, the venerable Nâgasena robed himself at dawn, and taking his bowl, accompanied his teacher on his round for alms to the village below. And as he went this thought arose within him: ‘It was, after all, empty-headed and foolish of my teacher to leave the rest of the Buddha’s word aside, and teach me the Abhidhamma first!’

Và khi đã được tu lên bậc trên, đại đức Nāgasena vào cuối đêm ấy lúc rạng đông đã quấn y trùm y rồi cầm bình bát và y, trong khi cùng với thầy tế độ đi vào làng để khất thực, đã sanh khởi ý nghĩ suy tầm như vầy: “Thầy tế độ của ta quả là rỗng không! Thầy tế độ của ta quả là ngu dốt! Ông đã bỏ qua phần còn lại về lời dạy của đức Phật và đã hướng dẫn ta Vi Diệu Pháp trước.”

 

  1. 23

 

And the venerable Rohana became aware in his own mind of what was passing in the mind of Nâgasena, and he said to him: ‘That is an unworthy reflection that thou art making, Nâgasena; it is not worthy of thee so to think.’

Khi ấy, đại đức Rohaṇa, sau khi dùng tâm biết được ý nghĩ suy tầm của đại đức Nāgasena, đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Này Nāgasena, con đã suy tầm về ý nghĩ suy tầm không thích đáng. Này Nāgasena, hơn nữa điều này quả là không thích đáng đối với con.”

 

‘How strange and wonderful,’ thought Nâgasena, ‘that my teacher should be able to tell in his own mind what I am thinking of! I must ask his pardon.’ And he said: ‘Forgive me, Sir; I will never make such a reflection again.’

Khi ấy, đại đức Nāgasena đã khởi ý điều này: “Thật là kỳ diệu! Thật là phi thường! Thầy tế độ của ta biết được ý nghĩ suy tầm bằng tâm. Thầy tế độ của ta quả là sáng trí. Hay là ta nên xin ngài thứ lỗi?”

 

[14] ‘I cannot forgive you, Nâgasena, simply on that promise,’ was the reply. ‘But there is a city called Sâgala, where a king rules whose name is Milinda, and he harasses the brethren by putting puzzles to them of heretical tendency. You will have earned your pardon, Nâgasena, when you shall have gone there, and overcome that king in argument, and brought him to take delight in the truth.’

Khi ấy, đại đức Nāgasena đã nói với đại đức Rohaṇa điều này: “Bạch ngài, xin ngài thứ lỗi cho con. Con sẽ không suy tầm như thế nữa.” Khi ấy, đại đức Rohaṇa đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Này Nāgasena, chỉ với chừng ấy thì ta không thứ lỗi cho con đâu. Này Nāgasena, có thành phố tên là Sāgala. Tại nơi ấy, có đức vua tên Milinda cai trị vương quốc. Ông ta hỏi câu hỏi theo học thuyết về tà kiến và đã gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu. Nếu con đi đến nơi đó, cải hóa, và tạo niềm tin cho đức vua ấy; được vậy thì ta sẽ thứ lỗi cho con.”

 

‘Not only let king Milinda, holy one, but let all the kings of India come and propound questions to me, and I will break all those puzzles up and solve them, if only you will pardon me!’ exclaimed Nâgasena. But when he found it was of no avail, he said: ‘Where, Sir, do you advise me to spend the three months of the rains now coming on 1?’

Đại đức Nāgasena đã nói rằng: “Bạch ngài, xin hãy để yên một đức vua Milinda. Bạch ngài, nếu tất cả các đức vua ở toàn cõi Jambudīpa đi đến để hỏi con câu hỏi, con sẽ trả lời và vạch rõ mọi điều ấy. Bạch ngài, xin ngài thứ lỗi cho con;” khi được trả lời: “Ta không thứ lỗi” thì đã nói rằng: “Bạch ngài, như thế thì ba tháng này con sẽ sống nương nhờ vào vị nào?”

 

  1. ‘There is a brother named Assagutta dwelling at the Vattaniya hermitage. Go, Nâgasena, to him; and in my name bow down to his feet, and say: “My teacher, holy one, salutes you reverently, and asks whether you are in health and ease, in full vigour and comfort. He has sent me here to pass

 

  1. 24

 

the three months of the rains under your charge.”

“Này Nāgasena, đại đức Assagutta này cư ngụ tại trú xứ Vattaniya. Này Nāgasena, con hãy đi đến gặp đại đức Assagutta, sau khi đi đến hãy đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của đại đức Assagutta với lời thăm hỏi của ta. Và con hãy nói với vị ấy như vầy: ‘Bạch ngài, thầy tế độ của con xin đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của ngài, và hỏi thăm về sự ít bệnh, ít đau, trạng thái nhẹ nhàng, khỏe mạnh, sống thoải mái (của ngài). Thầy tế độ của con đã gởi con đến sống hầu cận ngài trong ba tháng.’

 

When he asks you your teacher’s name, tell it him. But when he asks you his own name, say: “My teacher, Sir, knows your name.”‘

 

And Nâgasena bowed down before the venerable Rohana, and passing him on his right hand as he left him, took his bowl and robe, and went on from place to place till he came to the Vattaniya hermitage, begging for his food on the way. And on his arrival he saluted the venerable Assagutta, and said exactly what he had been told to say, [15] and to the last reply Assagutta said: ‘Very well then, Nâgasena, put by your bowl and robe.’ And the next day Nâgasena swept out the teacher’s cell, and put the drinking water and tooth-cleansers ready for him to use. The Elder swept out the cell again, threw away the water and the tooth-cleansers, and fetched others, and said not a word of any kind. So it went on for seven days. On the seventh the Elder again asked him the same questions as before. And on Nâgasena again making the same replies, he gave him leave to pass the rainy season there.

Và khi được hỏi: ‘Thầy tế độ của con là vị nào,’ thì con nên đáp rằng: ‘Bạch ngài, gọi là trưởng lão Rohaṇa.’ Khi được hỏi: ‘Ta đây tên gì?’ thì con nên đáp rằng: ‘Bạch ngài, thầy tế độ của con biết tên của ngài.’” “Bạch ngài, xin vâng.” Và đại đức Nāgasena, sau khi đảnh lễ đại đức Rohaṇa, đã hướng vai phải nhiễu quanh, rồi cầm lấy bình bát và y, trong khi tuần tự du hành đã đi đến trú xứ Vattaniya nơi đại đức Assagutta, sau khi đi đến đã đảnh lễ đại đức Assagutta rồi đứng một bên. Khi đã đứng một bên, đại đức Nāgasena đã nói với đại đức Assagutta điều này: “Bạch ngài, thầy tế độ của con xin đê đầu đảnh lễ hai bàn chân của ngài. Và người dặn dò như vầy. Người hỏi thăm về sự ít bệnh, ít đau, trạng thái nhẹ nhàng, khỏe mạnh, sống thoải mái (của ngài). Bạch ngài, thầy tế độ của con đã gởi con đến sống hầu cận ngài trong ba tháng.” Khi ấy, đại đức Assagutta đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Con tên gì?” “Bạch ngài, con tên Nāgasena.” “Thầy tế độ của con tên gì?” “Bạch ngài, Thầy tế độ của con gọi là Trưởng Lão Rohaṇa.” “Ta đây tên gì?” “Bạch ngài, thầy tế độ của con biết tên của ngài.” “Này Nāgasena, tốt lắm! Hãy đem cất bình bát và y.” “Bạch ngài, lành thay!” rồi đã đem cất bình bát và y, rồi vào ngày kế tiếp, đã quét phòng, đã đem lại nước rửa mặt và tăm xỉa răng. Vị trưởng lão đã quét lại chỗ đã được quét, đã đổ đi nước ấy rồi đem lại nước khác, và đã dời đi gỗ chà răng ấy rồi lấy gỗ chà răng khác. Ngài đã không trao đổi chuyện trò. Sau khi đã làm như vậy bảy ngày, vào ngày thứ bảy ngài đã hỏi lần nữa. Khi được đại đức Nāgasena trả lời y như thế, ngài đã cho phép việc cư trú mùa mưa.

 

  1. Now a certain woman, a distinguished follower of the faith, had for thirty years and more administered to the wants of the venerable Assagutta. And at the end of that rainy season she came one day to him, and asked whether there was any other brother staying with him. And when she was told that there was one, named Nâgasena.

– She invited the Elder, and Nâgasena, with him, to take their midday meal the next day at her house.

And the Elder signified, by silence, his consent. The next forenoon the Elder robed himself, and taking his bowl in his hand, went down, accompanied by Nâgasena as his

 

  1. 25

 

attendant, to the dwelling-place of that disciple, and there they sat down on the seats prepared for them.

Vào lúc bấy giờ, có một đại tín nữ đã hộ độ đại đức Assagutta thời gian ba mươi năm. Khi ấy, vào cuối thời điểm ba tháng, đại tín nữ ấy đã đi đến gặp đại đức Assagutta, sau khi đến đã nói với đại đức Assagutta điều này: “Bạch sư, có vị tỳ khưu nào khác hầu cận sư không?” “Này đại tín nữ, có vị tỳ khưu tên Nāgasena hầu cận chúng tôi.”

– Bạch sư Assagutta, như thế thì xin sư cùng với vị Nāgasena hãy nhận lời bữa thọ trai vào ngày mai.

Đại đức Assagutta đã nhận lời bằng thái độ im lặng. Sau đó, vào cuối đêm ấy lúc rạng đông, đại đức Assagutta đã quấn y trùm y rồi cầm bình bát và y cùng với đại đức Nāgasena là vị Sa-môn hầu cận đã đi đến tư gia của người đại tín nữ, sau khi đi đến đã ngồi xuống ở chỗ ngồi đã được xếp đặt.

 

And she gave to both of them food, hard and soft, as much as they required, waiting upon them with her own hands. When Assagutta had finished his meal, and the hand was withdrawn from the bowl, he said to Nâgasena: ‘Do thou, Nâgasena, give the thanks to this distinguished lady.’ And, so saying, he rose from his seat, and went away. [16]

Khi ấy, người đại tín nữ ấy đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Assagutta và đại đức Nāgasena với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Sau đó, khi đại đức Nāgasena đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, đại đức Assagutta đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Này Nāgasena, con hãy nói lời tùy hỷ cho người đại tín nữ,” nói xong điều ấy đã rời chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.

 

  1. And the lady said to Nâgasena: ‘I am old, friend Nâgasena. Let the thanksgiving be from the deeper things of the faith.’

Sau đó, người đại tín nữ ấy đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Bạch sư Nāgasena, tôi đã lớn tuổi. Hãy nói lời tùy hỷ cho tôi với bài giảng Pháp thâm thúy.”

 

And Nâgasena, in pronouncing the thanksgiving discourse 1, dwelt on the profounder side of the Abhidhamma, not on matters of mere ordinary morality, but on those relating to Arahatship 2. And as the lady sat there listening, there arose in her heart the Insight into the Truth 3, clear and stainless, which perceives that whatsoever has beginning, that has the inherent quality of passing away. And Nâgasena also, when he had concluded that thanksgiving discourse, felt the force of the truths he himself had preached, and he too arrived at insight 4–he too

 

  1. 26

 

entered, as he sat there, upon the stream (that is to say, upon the first stage of the Excellent Way to Arahatship).

Khi ấy, đại đức Nāgasena đã nói lời tùy hỷ cho người đại tín nữ ấy với bài giảng Vi Diệu Pháp thâm thúy, vượt trên thế gian, liên quan đến không tánh. Khi ấy, ngay tại chỗ ngồi ấy, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến người đại tín nữ ấy: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.” Còn đại đức Nāgasena, sau khi nói lời tùy hỷ cho người đại tín nữ ấy, trong khi quán xét lại Pháp do mình thuyết giảng, đã khởi sự việc minh sát, và trong khi đang ngồi ngay tại chỗ ngồi ấy, đã thành tựu quả Nhập Lưu.

 

  1. Then the venerable Assagutta, as he was sitting in his arbour, was aware that they both had attained to insight, and he exclaimed: ‘Well done! well done, Nâgasena! by one arrow shot you have hit two noble quarries!’ And at the same time thousands of the gods shouted their approval.

Khi ấy, đại đức Assagutta, ngồi ở ngôi nhà tròn, sau khi biết được việc đạt thành Pháp nhãn của cả hai người đã thốt lời tán thưởng rằng: “Lành thay, lành thay! Này Nāgasena, với một phát bắn mũi tên mà hai thân thể to lớn đã bị vỡ tung.” Và nhiều ngàn chư Thiên đã thốt lời tán thưởng: “Lành thay!”

 

Now the venerable Nâgasena arose and returned to Assagutta, and saluting him, took a seat reverently apart. And Assagutta said to him:

– ‘Do thou now go, Nâgasena, to Pâtaliputta. There, in the Asoka Park, dwells the venerable Dhamma-rakkhita. Under him you should learn the words of the Buddha.’

– ‘How far is it, Sir, from here to Pâtaliputta.’

– ‘A hundred leagues 1, Nâgasena.’

– ‘Great, Sir, is the distance. It will be difficult to get food on the way. How shall I get there?’

– ‘Only go straight on, Nâgasena. You shall get food on the way, rice from which the black grains have been picked out, with curries and gravies of various sorts.’

– ‘Very well, Sir!’ said Nâgasena, and bowing

 

  1. 27

 

down before his teacher, and passing him on the right side as he went, he took his bowl and his robe and departed for Pâtaliputta.

Sau đó, đại đức Nāgasena đã từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến gặp đại đức Assagutta, sau khi đi đến đã đảnh lễ đại đức Assagutta rồi ngồi xuống một bên. Khi đại đức Nāgasena đã ngồi xuống một bên, đại đức Assagutta đã nói với đại đức Nāgasena điều này:

– Này Nāgasena, con hãy đi đến Pāṭaliputta. Ở thành phố Pāṭaliputta, tại tu viện Asoka, có đại đức Dhammarakkhita cư ngụ. Con hãy học lời dạy của đức Phật trong sự chứng minh của vị ấy.

– Bạch ngài, từ đây đến thành phố Pāṭaliputta là bao xa?

– Này Nāgasena, một trăm do-tuần.

– Bạch ngài, đường đi quả là xa. Trên đường đi, vật thực khó kiếm. Con sẽ đi thế nào?

– Này Nāgasena, con hãy đi. Trên đường đi, con sẽ nhận được đồ ăn khất thực gồm có cơm gạo ngon không có hạt đen, nhiều canh, nhiều thức ăn.

– Bạch ngài, xin vâng. Sau khi đảnh lễ đại đức Assagutta và hướng vai phải nhiễu quanh, đại đức Nāgasena đã cầm lấy bình bát và y, rồi ra đi du hành về phía Pāṭaliputta.

 

  1. [17] At that time a merchant of Pâtaliputta, was on his way back to that city with five hundred waggons. And when he saw the venerable Nâgasena coming in the distance, he stopped the waggons, and saluted Nâgasena, and asked him: ‘Whither art thou going, father?’

– ‘To Pâtaliputta, householder.’

– ‘That is well, father. We too are going thither. It will be more convenient for thee to go with us.’

Vào lúc bấy giờ, nhà triệu phú người Pāṭaliputta cùng với năm trăm cỗ xe đang di chuyển ở con đường dẫn đến Pāṭaliputta. Nhà triệu phú người Pāṭaliputta đã nhìn thấy đại đức Nāgasena từ đàng xa đang tiến đến, sau khi nhìn thấy đã quay năm trăm cỗ xe trở lại và tiến đến gần đại đức Nāgasena, sau khi đến gần đã đảnh lễ đại đức Nāgasena rồi nói rằng: “Bạch sư, sư đi đâu?” “Này gia chủ, Pāṭaliputta.” “Tốt quá, thưa sư! Chúng tôi cũng đi Pāṭaliputta. Sư hãy thoải mái đi cùng chúng tôi.”

 

And the merchant, pleased with Nâgasena’s manners, provided him with food, hard and soft, as much as he required, waiting upon him with his own hands. And when the meal was over, he took a low seat, and sat down reverently apart. So seated, he said to the venerable Nâgasena:

  • ‘What, father, is your name?’
  • ‘I am called Nâgasena, householder.’
  • ‘Dost thou know, father, what are the words of Buddha?’
  • ‘I know the Abhidhamma.’

–    ‘We are most fortunate, father; this is indeed an advantage. I am a student of the Abhidhamma, and so art thou. Repeat to me, father, some passages from it.’

Sau đó, nhà triệu phú người Pāṭaliputta có được niềm tin vào bốn oai nghi của đại đức Nāgasena nên đã tự tay làm hài lòng và toại ý đại đức Nāgasena với thức ăn hảo hạng loại cứng loại mềm. Đến khi đại đức Nāgasena đã thọ thực xong bàn tay đã rời khỏi bình bát, ông ta đã cầm lấy một chiếc ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, nhà triệu phú người Pāṭaliputta đã nói với đại đức Nāgasena điều này:

– Bạch sư, sư tên gì?

– Này gia chủ, tôi tên Nāgasena.

– Bạch sư, vậy sư có biết lời dạy của đức Phật không?

– Này gia chủ, tôi có biết các câu về Vi Diệu Pháp.

– Bạch sư, thật là lợi ích cho chúng ta! Bạch sư, thật khéo đạt được cho chúng ta! Bạch sư, con cũng thích Vi Diệu Pháp, sư cũng chuyên về Vi Diệu Pháp. Bạch sư, thỉnh sư nói về các câu Vi Diệu Pháp.

 

Then the venerable Nâgasena preached to him from the Abhidhamma, and by degrees as he did so there arose in Nâgasena’s heart the Insight into the Truth, clear and stainless, which perceives that whatsoever has in itself the necessity of beginning, that too has also the inherent quality of passing away.

Khi ấy, đại đức Nāgasena đã thuyết giảng Vi Diệu Pháp cho nhà triệu phú người Pāṭaliputta. Ngay trong khi đang lần lượt thuyết giảng, Pháp nhãn không nhiễm bụi trần, không vết nhơ đã sanh khởi đến nhà triệu phú người Pāṭaliputta: “Điều gì có bản tánh được sanh lên, toàn bộ điều ấy đều có bản tánh hoại diệt.”

 

  1. And the Pâtaliputta merchant sent on his

 

  1. 28

 

waggons in advance, and followed himself after them. And at a place where the road divided, not far from Pâtaliputta, he stopped, and said to Nâgasena: ‘This is the turning to the Asoka Park. Now I have here a rare piece of woollen stuff, sixteen cubits by eight. [18] Do me the favour of accepting it.’ And Nâgasena did so. And the merchant, pleased and glad, with joyful heart, and full of content and happiness, saluted the venerable Nâgasena, and keeping him on his right hand as he passed round him, went on his way.

Sau đó, nhà triệu phú người Pāṭaliputta đã cho năm trăm cỗ xe đi trước, còn bản thân đi phía sau. Ông ta đã dừng lại ở đường rẽ hai không xa thành Pāṭaliputta, rồi nói với đại đức Nāgasena điều này: “Bạch sư Nāgasena, đường này dẫn đến tu viện Asoka. Bạch sư, còn đây là tấm mền len quý báu của tôi, bề dài mười sáu cánh tay, bề rộng tám cánh tay. Bạch sư, vì lòng thương tưởng xin sư hãy thọ nhận tấm mền len quý báu này.” Đại đức Nāgasena vì lòng thương tưởng đã thọ nhận tấm mền len quý báu ấy. Khi ấy, nhà triệu phú người Pāṭaliputta được hoan hỷ, phấn khởi, vui mừng, sanh tâm phỉ lạc, đã đảnh lễ đại đức Nāgasena, hướng vai phải nhiễu quanh, rồi ra đi.

 

  1. But Nâgasena went on to the Asoka Park to Dhamma-rakkhita. And after saluting him, and telling him on what errand he had come, he learnt by heart, from the mouth of the venerable Dhamma-rakkhita, the whole of the three baskets 1 of the Buddha’s word in three months, and after a single recital, so far as the letter (that is, knowing the words by heart) was concerned.. And in three months more he mastered the spirit (that is, the deeper meaning of the sense of the words).

But at the end of that time the venerable Dhamma-rakkhita

 

  1. 29

 

addressed him, and said:

Sau đó, đại đức Nāgasena đã đi đến tu viện Asoka gặp đại đức Dhammarakkhita, sau khi đi đến đã đảnh lễ đại đức Dhammarakkhita, và nói về lý do đi đến của mình. Sau đó, trong sự chứng minh của đại đức Dhammarakkhita, đại đức Nāgasena đã học Tam Tạng, lời dạy của đức Phật, về phần văn tự chỉ với một lần đọc trong ba tháng, rồi thêm ba tháng nữa chú tâm về phần ý nghĩa. Khi ấy, đại đức Dhammarakkhita đã nói với đại đức Nāgasena điều này:

 

–  ‘Nâgasena, as a herdsman tends the cows, but others enjoy their produce, so thou too carriest in thy head the whole three baskets of the Buddha’s word, and still art not yet a partaker of the fruit of Samanaship.’

– ‘Though that be so, holy one, say no more,’ was the reply.

– Này Nāgasena, cũng giống như người chăn bò bảo vệ con bò, còn những kẻ khác thưởng thức hương vị (sản phẩm) của bò, này Nāgasena tương tợ y như thế, mặc dù đang thuộc lòng Tam Tạng, lời dạy của đức Phật, con không hưởng được phần của bản thể Sa-môn.

– Bạch ngài, hãy là vậy. Với chừng này là đủ rồi.

 

And on that very day, at night, he attained to Arahatship and with it to the fourfold power of that Wisdom possessed by all Arahats (that is to say: the realisation of the sense, and the appreciation of the deep religious teaching contained in the word, the power of intuitive judgment, and the power of correct and ready exposition) 1. And at the moment of his penetrating the truth all the gods shouted their approval, and the earth thundered, and the Brahma gods clapped their hands, and there fell from heaven a shower of sweet-scented sandal dust and of Mandârava flowers.

Rồi ngay trong ngày ấy, đêm ấy, đại đức Nāgasena đã đạt được phẩm vị A-la-hán cùng với các Tuệ Phân Tích. Cùng với việc thâm nhập Chân Lý của đại đức Nāgasena, tất cả chư Thiên đã ban lời tán thưởng: “Lành thay.” Trái đất đã gầm lên. Các Phạm Thiên đã vỗ tay. Các bột trầm hương của cõi trời và các bông hoa mạn-đà-la của cõi trời đã đổ mưa.

 

  1. Now at that time the innumerable company of the Arahats at the Guarded Slope in the Himâlaya Mountains sent a message to him to come, for they were anxious to see him. And when he heard the message the venerable Nâgasena vanished from the Asoka Park and appeared before them. And they said: ‘Nâgasena, that king Milinda is in the habit of harassing the brethren by knotty questions and by argumentations this way and that. Do thou, Nâgasena, go and [19] master him.’

Vào lúc bấy giờ, một trăm koṭi vị A-la-hán đã tụ hội tại cao nguyên Rakkhita núi Hi-mã-lạp, và đã phái sứ giả đi đến gặp đại đức Nāgasena (nói rằng): “Nāgasena hãy đến. Chúng tôi có ý muốn gặp Nāgasena.” Khi ấy, sau khi nghe được lời nói của người sứ giả, đại đức Nāgasena đã biến mất ở tu viện Asoka và đã hiện ra ở cao nguyên Rakkhita núi Hi-mã-lạp, phía trước một trăm koṭi vị A-la-hán. Khi ấy, một trăm koṭi vị A-la-hán đã nói với đại đức Nāgasena điều này: “Này Nāgasena, đức vua Milinda này gây khó khăn cho hội chúng tỳ khưu với việc hỏi câu hỏi theo học thuyết về tà kiến. Này Nāgasena, thật tốt đẹp thay! Con hãy đi và cải hóa Milinda.”

 

‘Not only let king Milinda, holy ones, but let all the kings of India, come and propound questions to

 

  1. 30

 

  1. I will break all those puzzles up and solve them. You may go fearlessly to Sâgala.’

“Bạch các ngài, xin hãy để yên một đức vua Milinda. Bạch các ngài, nếu tất cả các đức vua ở toàn cõi Jambudīpa đi đến để hỏi con câu hỏi, con sẽ trả lời và vạch rõ mọi điều ấy. Bạch các ngài, các ngài hãy đi đến thành phố Sāgala, không phải lo sợ.”

 

Then all the Elders went to the city of Sâgala, lighting it up with their yellow robes like lamps, and bringing down upon it the breezes from the heights where the sages dwell 1.

Sau đó, các vị tỳ khưu trưởng lão đã làm cho thành phố Sāgala trở thành quầng ánh sáng màu y ca-sa với sự di chuyển ngược xuôi của các vị ẩn sĩ.

____________________

 

  1. At that time the venerable Âyupâla was living at the Sankheyya hermitage. And king Milinda said to his counsellors: ‘Beautiful is the night and pleasant! Who is the wandering teacher or Brahman we can visit to night to question him who will be able to converse with us and to resolve our doubts?’

Vào lúc bấy giờ, đại đức Āyupāla trú ngụ tại tự viện Saṅkheyya. Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với các quan đại thần rằng: “Đêm trăng trong quả thật đáng yêu! Phải chăng hôm nay chúng ta nên đi đến gặp vị Sa-môn hoặc Bà-la-môn để hỏi câu hỏi? Vị nào có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?”

 

And the five hundred Yonakas replied: ‘There is the Elder, Lord, named Âyupâla, versed in the three baskets, and in all the traditional lore. He is living now at the Sankheyya hermitage. To him you might go, O king, and put your questions to him.’

Được nói như vậy, năm trăm người xứ Yonaka đã nói với đức vua rằng: “Tâu đại vương, có vị trưởng lão tên Āyupāla thông Tam Tạng, là vị nghe nhiều, kinh điển được truyền thừa. Hiện nay, vị ấy trú ngụ tại tự viện Saṅkheyya. Tâu đại vương, xin đại vương hãy đi đến đại đức Āyupāla và hỏi câu hỏi.”

 

‘Very well, then. Let the venerable one be informed that we are coming.’

 

  1. 31

 

Then the royal astrologer sent a message to Âyupâla to the effect that king Milinda desired to call upon him. And the venerable one said: ‘Let him come.’

“Này các khanh, như thế thì các khanh hãy thông báo đến ngài đại đức.” Sau đó, một nhà tiên tri đã phái sứ giả đi đến gặp đại đức Āyupāla (nói rằng): “Thưa ngài, đức vua Milinda có ý muốn gặp đại đức Āyupāla.” Đại đức Āyupāla cũng đã nói như vầy: “Như thế thì ngài hãy đến.”

 

So Milinda the king, attended by the five hundred Yonakas, mounted his royal chariot and proceeded to the Sankheyya hermitage, to the place where Âyupâla dwelt, and exchanged with him the greetings and compliments of friendship and courtesy, and took his seat respectfully apart. And then he said to him:

Sau đó, được tháp tùng bởi năm trăm người xứ Yonaka, đức vua Milinda đã bước lên cỗ xe ngựa cao quý đi đến tự viện Saṅkheyya gặp đại đức Āyupāla, sau khi đến đã tỏ vẻ thân thiện với đại đức Āyupāla, sau khi trao đổi lời xã giao thân thiện rồi đã ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, đức vua Milinda đã nói với đại đức Āyupāla điều này:

 

  1. ‘Of what use, venerable Âyupâla, is the renunciation of the world carried out by the members of your Order, and in what do you place the summum bonum?’

– ‘Our renunciation, O king,’ replied the Elder, ‘is for the sake of being able to live in righteousness, and in spiritual calm.’

– ‘Is there, Sir, any layman who lives so?’

“Bạch ngài Āyupāla, sự xuất gia của ngài là với mục đích gì? Và mục đích tột cùng của ngài là gì?”

– Vị trưởng lão đã nói rằng: “Tâu đại vương, sự xuất gia có mục đích thực hành Giáo Pháp và thực hành sự bình lặng.”

– Bạch ngài, có người tại gia nào cũng có sự thực hành Giáo Pháp, (và sự thực hành pháp bình lặng)?

 

– ‘Yes, great king, there are such laymen. At the time when the Blessed One set rolling the royal chariot wheel of the kingdom of righteousness at Benares, at the Deer Park, [20] eighteen kotis of the Brahma gods, and an innumerable company of other gods, attained to comprehension of the truth 1. And not one of those beings, all of whom were laymen, had renounced the world.

– Tâu đại vương, có chứ. Cũng có người tại gia có sự thực hành Giáo Pháp và có sự thực hành pháp bình lặng. Tâu đại vương, trong khi đức Thế Tôn chuyển vận Bánh Xe Pháp ở thành Bārāṇasī, Isipatana, nơi vườn nai, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của mười tám koṭi vị Phạm Thiên. Còn sự lãnh hội Giáo Pháp của chư Thiên thì vượt qua cách thức tính đếm. Tất cả những vị ấy đều là người tại gia, không phải bậc xuất gia.

 

And again when the Blessed One delivered the Mahâ Samaya discourse 2, and the discourse on the ‘Greatest Blessing 3,’

 

  1. 32

 

and the Exposition of Quietism 1, and the Exhortation to Râhula 2, the multitude of gods who attained to comprehension of the truth cannot be numbered. And not one of those beings, all of whom were laymen, had renounced the world 3.’

Tâu đại vương, và hơn nữa, trong khi bài Kinh Mahāsamaya đang được thuyết giảng, trong khi bài Kinh Mahāmaṅgala đang được thuyết giảng, trong khi bài Kinh Samacittapariyāya đang được thuyết giảng, trong khi bài Kinh Rāhulovāda đang được thuyết giảng, trong khi bài Kinh Parābhava đang được thuyết giảng bởi đức Thế Tôn, đã có sự lãnh hội Giáo Pháp của chư Thiên vượt lên trên cách thức tính đếm. Tất cả những vị ấy đều là người tại gia, không phải bậc xuất gia.[6]

 

‘Then, most venerable Âyupâla, your renunciation is of no use. It must be in consequence of sins committed in some former birth, that the Buddhist Samanas renounce the world, and even subject themselves to the restraints of one or other of the thirteen aids to purity 4! Those who remain on one seat till they have finished their repast were, forsooth, in some former birth, thieves who robbed other men of their food. It is in consequence of the Karma of having so deprived others of food that they have now only such food as they can get at one sitting; and are not allowed to eat from time to time as they want. It is no virtue on their part, no meritorious abstinence, no righteousness of life. And they who live in the open air were, forsooth, in

 

  1. 33

 

some former birth, dacoits who plundered whole villages. It is in consequence of the Karma of having destroyed other people’s homes, that they live now without a home, and are not allowed the use of huts. It is no virtue on their part, no meritorious abstinence, no righteousness of life. And those who never lie down, they, forsooth, in some former birth, were highwaymen who seized travellers, and bound them, and left them sitting there. It is in consequence of the Karma of that habit that they have become Nesaggikâ in this life (men who always sit) and get no beds to lie on. It is no virtue on their part, no meritorious abstinence, no righteousness of life!’

Đức vua Milinda đã nói rằng: “Bạch ngài Āyupāla, như thế thì sự xuất gia của ngài là vô nghĩa; do kết quả của nghiệp ác đã làm trong quá khứ mà các Sa-môn Thích tử xuất gia và gìn giữ các pháp từ khước.[7] Bạch ngài Āyupāla, những vị tỳ khưu (hành pháp) một chỗ ngồi (khi thọ thực), có lẽ trong quá khứ họ là những kẻ đạo tặc đoạt lấy tài sản của những người khác, sau khi cướp đoạt các tài sản của những người khác mà ngày nay, do kết quả của nghiệp ấy, họ trở thành các vị (hành pháp) một chỗ ngồi (khi thọ thực), không chấp nhận thọ thực lúc này lúc khác, nhiều chỗ ngồi. Đối với những vị ấy thì chẳng có giới hạnh, chẳng có khổ hạnh, chẳng có Phạm hạnh. Bạch ngài Āyupāla, những vị tỳ khưu (hành pháp) ngụ ở ngoài trời, có lẽ trong quá khứ họ là những kẻ đạo tặc tàn phá xóm làng, sau khi tiêu hủy các căn nhà của những người khác mà ngày nay, do kết quả của nghiệp ấy, họ trở thành các vị (hành pháp) ngụ ở ngoài trời, không chấp nhận thọ dụng các chỗ trú ngụ. Đối với những vị ấy thì chẳng có giới hạnh, chẳng có khổ hạnh, chẳng có Phạm hạnh. Bạch ngài Āyupāla, những vị tỳ khưu (hành pháp) về oai nghi ngồi (không nằm), có lẽ trong quá khứ họ là những kẻ đạo tặc cướp đường, sau khi bắt giữ các khách đi đường, trói lại, rồi bắt họ ngồi xuống mà ngày nay, do kết quả của nghiệp ấy, họ trở thành các vị (hành pháp) về oai nghi ngồi (không nằm), không chấp nhận được phép nằm. Đối với những vị ấy thì chẳng có giới hạnh, chẳng có khổ hạnh, chẳng có Phạm hạnh.”

 

  1. And when he had thus spoken the venerable Âyupâla was silenced, and had not a word to say in reply. Then the five hundred Yonakas said to the king: ‘The Elder, O king, is learned, but is also diffident. It is for that reason that he makes no rejoinder. But the king on seeing how silent Âyupâla had become, clapped his hands [21] and cried out: ‘All India is an empty thing, it is verily like chaff! There is no one, either Samana or Brahman, capable of discussing things with me and dispelling my doubts 1!’

Được nói như vậy, đại đức Āyupāla đã im lặng, không đáp lại điều gì. Khi ấy, năm trăm người xứ Yonaka đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, vị trưởng lão là bậc sáng trí, tuy nhiên ngài không tự tin nên không đáp lại điều gì.” Sau đó, khi nhìn thấy đại đức Āyupāla có thái độ im lặng, đức vua Milinda đã vỗ tay, reo lên, rồi nói với những người xứ Yonaka điều này: “Xứ Jambudīpa quả thật trống trơn! Xứ Jambudīpa quả thật vô nghĩa! Không có Sa-môn hoặc Bà-la-môn nào có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?”

 

As he looked, however, at the assembly and saw how fearless and self-possessed the Yonakas appeared, he thought within himself: ‘For a certainty there must be, methinks, some other learned brother capable of disputing with me, or those Yonakas would not be thus confident.’ And he said to them:

 

  1. 34

 

[paragraph continues]

‘Is there, my good men, any other learned brother to discuss things with me and dispel my doubts?’

Sau đó, đức vua Milinda, trong khi quan sát toàn thể hội chúng ấy, đã nhìn thấy những người Yonaka không bị sợ hãi, không có trạng thái bối rối, nên đã khởi ý điều này: “Ta nghĩ rằng chắc chắn là có vị tỳ khưu sáng trí nào khác có khả năng để chuyện trò với ta để giải tỏa điều nghi hoặc nên những người xứ Yonaka này không có trạng thái bối rối.” Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với những người xứ Yonaka điều này: “Này các khanh, có vị tỳ khưu sáng trí nào khác có khả năng để chuyện trò với trẫm để giải tỏa điều nghi hoặc?”

 

  1. Now at that time the venerable Nâgasena, after making his alms-tour through the villages, towns, and cities, had in due course arrived at Sâgala, attended by a band of Samanas, as the leader of a company of the Order; the head of a body of disciples; the teacher of a school; famous and renowned, and highly esteemed by the people. And he was learned, clever, wise, sagacious, and able; a skilful expounder, of subdued manners, but full of courage; well versed in tradition, master of the three Baskets (Pitakas), and erudite in Vedic lore 1. He was in possession of the highest (Buddhist) insight, a master of all that had been handed down in the schools, and of the various discriminations 2 by which the most abstruse points can be explained. He knew by heart the ninefold divisions of the doctrine of the Buddha to perfection 3, and was equally skilled in discerning both the spirit and the letter of the Word. Endowed with instantaneous and varied power of repartee, and wealth of language, and beauty of eloquence, he was difficult to equal, and still more difficult to excel, difficult to answer, to repel, or to refute. He was imperturbable as the depths of the sea, immovable as the king of mountains; victorious in the struggle with evil, a dispeller

 

  1. 35

 

of darkness and diffuser of light; mighty in eloquence, a confounder of the followers of other masters, and a crusher-out of the adherents of rival doctrines (malleus hereticorum). Honoured and revered by the brethren and sisters of the Order, and its lay adherents of either sex, and by kings and their high officials, he was in the abundant receipt of all the requisites of a member of the Order–robes and bowl and lodging, and whatever is needful for the sick–receiving the highest veneration no less than material gifts. To the wise and discerning who came to him with listening ear he displayed the ninefold jewel of the Conqueror’s word, he pointed out to them the path of righteousness, bore aloft for them the torch of truth, set up for them the sacred pillar of the truth 1, and celebrated for their benefit the sacrifice of the truth. For them he waved the banner, raised the standard, blew the trumpet, and beat the drum of truth. And with his mighty lion’s voice, [22] like Indra’s thunder but sweet the while, he poured out upon them a plenteous shower, heavy with drops of mercy, and brilliant with the coruscations of the lightning flashes of his knowledge, of the nectar waters of the teaching of the Nirvâna of the truth–thus satisfying to the full a thirsty world.

Vào lúc bấy giờ, đại đức Nāgasena được vây quanh bởi tập thể Sa-môn, là vị có hội chúng, có đồ chúng, là giáo thọ sư của tập thể, được biết tiếng, có danh vọng, được nhiều người đánh giá cao, là vị sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, khôn khéo, hiểu biết, rành mạch, nghiêm chỉnh, tự tin, nghe nhiều, thông Tam Tạng, hiểu biết sâu sắc, trí đã được khai mở, kinh điển được truyền thừa, tuệ phân tích đã được khai mở, rành rẽ pháp học về lời dạy của bậc Đạo Sư gồm chín thể loại, đã đạt đến sự toàn hảo, thiện xảo trong việc thâm nhập lời thuyết giảng về ý nghĩa của Giáo Pháp trong lời dạy của đấng Chiến Thắng, có tài ứng đối linh hoạt không bị ngập ngừng, có sự thuyết giảng phong phú, có sự phát biểu khéo léo, là vị khó sánh bằng, khó khuất phục, khó trội hơn, khó chèn, khó ép, không lao chao ví như biển cả, không dao động ví như núi chúa, dứt bỏ dục vọng, xua đi tăm tối, phát ra ánh sáng, là diễn giả hùng hồn, gây xáo trộn tập thể của các vị có đồ chúng khác, khuất phục các giáo chủ tà giáo khác, đối với các tỳ khưu, các tỳ khưu ni, các cận sự nam, các cận sự nữ, các vua chúa, các quan đại thần của đức vua thì được tôn vinh, được cung kính, được sùng bái, được cúng dường, được nể nang, nhận được các vật dụng về y phục vật thực chỗ trú ngụ và thuốc men chữa bệnh, đã đạt được đỉnh cao về lợi lộc và đỉnh cao về danh vọng, đang trình bày sự quý báu về lời dạy của đấng Chiến Thắng gồm chín thể loại đến những bậc hiểu biết lớn tuổi đang tập trung lắng nghe, đang chỉ ra con đường Giáo Pháp, đang nắm giữ ngọn đèn Giáo Pháp, đang nâng lên tòa lâu đài Giáo Pháp, đang hy sinh sự cống hiến cho Giáo Pháp, đang nâng đỡ biểu hiệu của Giáo Pháp, đang nâng lên ngọn cờ Giáo Pháp, đang làm vang lên tiếng tù và của Giáo Pháp, đang vỗ trống Giáo Pháp, đang rống tiếng rống sư tử, đang gầm tiếng gầm của vị Trời Inda (tiếng sấm), đang làm hài lòng toàn bộ thế gian với việc đã thốt lên giọng nói ngọt ngào, với việc đã trùm lên mạng lưới tia sét của trí tuệ, với việc đã mang nặng dòng nước thương yêu, với trận mưa lớn về sự Bất Tử của Giáo Pháp, trong khi tuần tự du hành qua làng mạc thị trấn kinh thành đã ngự đến thành phố Sāgala.

 

  1. There then, at the Sankheyya hermitage, did the venerable Nâgasena, with a numerous company of the brethren, dwell 2. Therefore is it said:

Ở nơi ấy, đại đức Nāgasena ngụ tại tự viện Saṅkheyya cùng với tám chục ngàn vị tỳ khưu. Vì thế, đã có lời rằng:

 

  1. 36

‘Learned, with varied eloquence, sagacious, bold,

Master of views, in exposition sound,

The brethren–wise themselves in holy writ,

Repeaters of the fivefold sacred word–

Put Nâgasena as their leader and their chief.

Him, Nâgasena of clear mind and wisdom deep,

Who knew which was the right Path, which the false,

And had himself attained Nirvâna’s placid heights!

Attended by the wise, by holders to the Truth,

He had gone from town to town, and come to Sâgala;

And now he dwelt there in Sankheyya’s grove,

Appearing, among men, like the lion of the hills.’

“Là vị nghe nhiều, có sự thuyết giảng phong phú, khôn khéo, và tự tin, và thiện xảo về thời điểm, có tài ứng đối, và thông thái.

Và các tỳ khưu thông Tam Tạng, cùng với các vị thông năm bộ Kinh, và luôn cả các vị thông bốn bộ Kinh, các vị ấy tôn vinh Nāgasena.

Nāgasena là vị có tuệ thâm sâu, thông minh, biết được Đạo và không phải là Đạo, đã đạt đến mục đích tối thượng, có sự tự tin.

Được các vị tỳ khưu khôn khéo, có lời nói chân thật ấy tháp tùng, trong khi du hành qua làng mạc thị trấn, đã đi đến Sāgala.

Từ đó, Nāgasena đã ngụ tại tự viện Saṅkheyya. Giống như con sư tử ở ngọn núi, vị ấy thuyết giảng cho nhiều người.”

 

  1. And Devamantiya said to king Milinda: ‘Wait a little, great king, wait a little! There is an Elder named Nâgasena, learned, able, and wise, of subdued manners, yet full of courage, versed in the traditions, a master of language, and ready in reply, one who understands alike the spirit and the letter of the law, and can expound its difficulties and refute objections to perfection 1. He is staying at present at the Sankheyya hermitage. You should go, great king, and put your questions to him. He is able to discuss things with you, and dispel your doubts.’

Khi ấy, vị Devamantiya đã nói với đức vua Milinda điều này: “Tâu đại vương, xin đại vương hãy chờ đợi. Tâu đại vương, xin đại vương hãy chờ đợi. Tâu đại vương, có vị trưởng lão tên Nāgasena là bậc sáng trí, kinh nghiệm, thông minh, nghiêm chỉnh, tự tin, nghe nhiều, có sự thuyết giảng phong phú, có tài ứng đối khôn khéo, đã đạt đến sự toàn hảo trong các tuệ phân tích về ý nghĩa, về các pháp, về ngôn từ, và về phép biện giải. Hiện nay, vị ấy ngụ tại tự viện Saṅkheyya. Tâu đại vương, xin đại vương hãy đi đến, hãy hỏi đại đức Nāgasena câu hỏi. Vị ấy có khả năng để chuyện trò với đại vương để giải tỏa điều nghi hoặc.”

 

Then when Milinda the king heard the name Nâgasena, thus suddenly introduced, he was seized with fear, and with anxiety, and the hairs of his body stood on end 2. But he asked Devamantiya: ‘Is that really so?’

 

  1. 37

 

And Devamantiya replied: ‘He is capable, Sire, of discussing things with the guardians of the world–with Indra, Yama, Varuna, Kuvera, Pragâpati, Suyâma, [23] and Santushita–and even with the great Brahma himself, the progenitor of mankind, how much more then with a mere human being!’

Khi ấy, đức vua Milinda, chợt nghe đến tên “Nāgasena,” đã có sự sợ hãi, đã có sự khiếp đảm, đã có nổi da gà. Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với Devamantiya điều này: “Này khanh, có phải ngài tỳ khưu Nāgasena có khả năng để chuyện trò với trẫm?” “Tâu đại vương, vị ấy có khả năng để chuyện trò với cả vị Trời Inda, Yama, Varuṇa, Kuvera, Pajāpati, Suyāma, các vị hộ trì cõi Trời Đẩu Suất, luôn cả Đại Phạm Thiên là bậc cha ông, thì có gì với loài người?”

 

‘Do you then, Devamantiya,’ said the king, ‘send a messenger to say I am coming.’

And he did so. And Nâgasena sent word back that he might come. And the king, attended by the five hundred Yonakas, mounted his royal chariot, and proceeded with a great retinue to the Sankheyya hermitage, and to the place where Nâgasena dwelt.

Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, như thế thì khanh hãy phái sứ giả đi đến gặp ngài đại đức.” “Tâu bệ hạ, xin vâng.” Rồi Devamantiya đã phái sứ giả đi đến gặp đại đức Nāgasena (nói rằng): “Bạch ngài, đức vua Milinda có ý muốn gặp đại đức Nāgasena.” Đại đức Nāgasena cũng đã nói rằng: “Như thế thì vị ấy hãy đến.” Sau đó, được tháp tùng bởi năm trăm người xứ Yonaka, đức vua Milinda đã bước lên cỗ xe ngựa cao quý cùng với đội quân binh đi đến tự viện Saṅkheyya gặp đại đức Nāgasena.

 

  1. At that time the venerable Nâgasena was seated with the innumerable company of the brethren of the Order, in the open hall in front of the hermitage 1. So king Milinda saw the assembly from afar, and he said to Devamantiya: ‘Whose, Devamantiya, is this so mighty retinue?’

‘These are they who follow the venerable Nâgasena,’ was the reply.

Vào lúc bấy giờ, đại đức Nāgasena đang ngồi ở ngôi nhà tròn cùng với tám mươi ngàn vị tỳ khưu. Đức vua Milinda đã nhìn thấy hội chúng của đại đức Nāgasena từ đàng xa, sau khi nhìn thấy đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, hội chúng đông đảo này là của ai vậy?” “Tâu đại vương, là hội chúng của đại đức Nāgasena.”

 

Then at the sight there came over king Milinda

 

  1. 38

 

a feeling of fear and of anxiety, and the hairs of his body stood on end 1. But nevertheless, though he felt like an elephant hemmed in by rhinoceroses, like a serpent surrounded by the Garudas (the snake-eating mythical birds), like a jackal surrounded by boa-constrictors, or a bear by buffaloes, like a frog pursued by a serpent, or a deer by a panther, like a snake in the hands of a snake charmer, or a rat played with by a cat, or a devil charmed by an exorcist, like the moon when it is seized by Râhu, like a snake caught in a basket, or a bird in a cage, or a fish in a net, like a man who has lost his way in a dense forest haunted by wild beasts, like a Yakkha (ogre) who has sinned against Vessavana (the king of ogres and fairies), or like a god whose term of life as a god has reached its end–though confused and terrified, anxious, and beside himself in an agony of fear like that–yet at the thought that he must at least avoid humiliation in the sight of the people, he took courage, and said to Devamantiya: ‘You need not [24] trouble to point out to me which is Nâgasena. I shall pick him out unaided.’

‘Certainly, Sire, recognise him yourself,’ said he 2.

Lúc đó, sau khi nhìn thấy hội chúng của đại đức Nāgasena từ đàng xa, đức vua Milinda đã có sự khiếp đảm, đã có nổi da gà. Khi ấy, đức vua Milinda, tợ như con voi bị bao vây bởi những con tê giác, tợ như con rồng bị bao vây bởi những con kim-sỉ-điểu, tợ như con chó rừng bị bao vây bởi những con trăn, tợ như con gấu bị bao vây bởi những con trâu rừng, tợ như con ếch bị đuổi theo bởi con rắn, tợ như con nai bị đuổi theo bởi con báo, tợ như con rắn bị chạm trán người bắt rắn, tợ như con chuột bị chạm trán con mèo, tợ như con yêu tinh bị chạm trán thầy trừ tà, tợ như mặt trăng đi vào miệng của Rāhu (bị nguyệt thực), tợ như con rắn bị sa vào giỏ, tợ như con chim bị rơi vào lồng, tợ như con cá bị dính vào lưới, tợ như con người bị đi lạc vào rừng có thú dữ, tợ như loài Dạ-xoa phạm lỗi đối với Thiên Vương Vessavaṇa, tợ như vị Thiên tử có tuổi thọ bị cạn kiệt, trở nên sợ hãi, kinh hoàng, dáo dác, rúng động, lông dựng đứng lên, thất thần, lo âu, tâm bị tán loạn, nhụt ý, sau khi lấy lại sự can đảm (nghĩ rằng): “Chớ để người này xem thường ta,” đức vua đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, khanh chớ giới thiệu đại đức Nāgasena cho trẫm, trẫm sẽ nhận biết Nāgasena dầu chưa được nói ra.”

“Tâu đại vương, lành thay! Xin đại vương hãy tự nhận biết.”

 

  1. Now Nâgasena was junior in seniority (reckoned from the date of his full membership in the

 

  1. 39

 

[paragraph continues]

Order) to the half of that great company seated in front of him, and senior to the half seated behind him. And as he looked over the whole of the assembly, in front, and down the centre, and behind, king Milinda detected Nâgasena seated in the middle, and, like a shaggy lion who knows no fear or frenzy, entirely devoid of nervous agitation, and free from shyness and trepidation. And as soon as he saw him, he knew by his mien that that was Nâgasena, and he pointed him out to Devamantiya.

‘Yes, great king,’ said he, ‘that is Nâgasena. Well hast thou, Sire, recognised the sage.’

Vào lúc bấy giờ, đại đức Nāgasena là ở nơi hội chúng tỳ khưu của ngài gồm bốn mươi ngàn vị tỳ khưu kém thâm niên ở phía trước và bốn mươi ngàn vị tỳ khưu thâm niên hơn ở phía sau. Khi ấy, trong khi quan sát toàn thể hội chúng tỳ khưu ấy từ phía trước từ phía sau và ở chính giữa, đức vua Milinda đã nhìn thấy từ ở đàng xa đại đức Nāgasena đang ngồi ở giữa hội chúng tỳ khưu tợ như cho sư tử có bờm, không chút sợ hãi khiếp đảm, không bị nổi da gà, không sợ hãi thẹn thùng, sau khi nhìn thấy đã nhận ra nhờ vào sự biểu hiện: “Người này đây chính là Nāgasena.” Khi ấy, đức vua Milinda đã nói với Devamantiya điều này: “Này Devamantiya, có phải vị ấy chính là đại đức Nāgasena?” “Tâu đại vương, đúng vậy. Vị ấy chính là đại đức Nāgasena. Tâu đại vương, thật là tốt đẹp! Đại vương đã nhận ra vị Nāgasena.”

 

‘Whereupon the king rejoiced that he had recognised Nâgasena without having had him pointed out to him. But nevertheless, at the sight of him, the king was seized with nervous excitement and trepidation and fear. Therefore is it said:

Vì thế, đức vua đã trở nên hớn hở: “Dầu không được nói, trẫm đã nhận ra được Nāgasena.” Lúc đó, sau khi đã nhìn thấy đại đức Nāgasena, đức vua Milinda đã có sự sợ hãi, đã có sự khiếp đảm, đã có nổi da gà. Vì thế, có lời nói rằng:

 

‘At the sight of Nâgasena, wise and pure,

Subdued in all that is the best subjection,

Milinda uttered this foreboding word–

“Many the talkers I have visited,

Many the conversations I have had,

But never yet, till now, to-day, has fear,

So strange, so terrible, o’erpowered my heart.

Verily now defeat must be my lot,

And victory his, so troubled is my mind.”‘

“Sau khi nhìn thấy Nāgasena được thành tựu tánh hạnh, đang khéo được rèn luyện trong sự rèn luyện tối thượng, đức vua đã nói lời nói này:

‘Ta đã gặp nhiều nhà thuyết giáo, đã tham dự nhiều cuộc bàn luận, ta đã không có sự sợ hãi như thế này, như là sự run sợ của ta ngày hôm nay.

Sự thất bại chắc chắn sẽ xảy ra cho ta ngày hôm nay, khi tâm không được tập trung như vầy, và chính phần thắng sẽ là của Nāgasena.’”

 

Here ends the introductory secular narrative (Bâhira-kathâ) 1.

Dứt Phần Ngoại Thuyết.

 

 

 

 

Footnotes

 

1:1 Bâhira-kathâ, literally ‘outside talk;’ so called in contradistinction to the religious character of the subjects treated of in the remaining books.

2:1 That is Ionians, the Pâli word for Baktrian Greeks.

2:2 Nânâ-puta-bhedanam, literally ‘the distributing place of parcels of merchandise of many kinds.’ Trenckner renders it ‘surrounded with a number of dependent towns,’ but surely entrepôt is the idea suggested.

2:3 Sutavanta-nimmitam; which Trenckner renders ‘pious are its people.’ But I prefer the Simhalese interpretation.

2:4 This list recurs at pp. 34, 330 of the text. See below, p. 53.

3:1 It is worth noting, as there is a doubt about the spelling, that Hînati-kumburê reads Kotumbara, not Kodumbara.

3:2 Here follow in Hînati-kumburê’s version two pages of introductory matter, explaining how he came to undertake his translation.

4:1 These six words are added from Hînati-kumburê.

6:1 Hetu, literally ’cause.’ Trenckner has ‘logic(?);’ Hînati-kumburê repeats the word.

6:2 Muddâ, literally ‘seal-ring.’ The meaning of the term (which recurs in similar lists at Dîgha I, 1, 25; I, 2, 14; and below, p. 59 of the text) is quite clear, but the exact details of the ‘art’ are unknown. I follow Buddhaghosa’s comment on those passages. Trenckner leaves the word untranslated, and Hînati-kumburê says, ‘Ængillen œl-wîma,’ that is, ‘adhering with the finger,’ which I do not understand, unless it means the scaling of a document. At IV, 3, 2 5, the context makes it probable that ‘law of property’ would be the best rendering.

6:3 The number of the Sippas (Arts and Sciences) is usually given as eighteen. In the Gâtaka (p. 58, 1. 29, Professor Fausböll’s edition) it is twelve.

7:1 Lokâyatas and Vitandas. Other Pâli passages, where they are mentioned, are Kullavagga V, 3, 2; Anguttara III, 58, 1; Sumangala Vilâsinî, 96, 247; and below, § 22 (p. 17). See also Weber, ‘Bhagavatî,’ II, 246; Muir, ‘Sanskrit Texts,’ III, 95; Deussen, ‘Das Vedânta-System,’ 310.

7:2 Samana. There is no expression in English corresponding to this common word in Pâli texts. It means any ‘religious’ (in the technical meaning of that word) who is not a recluse according to the orthodox Brahman rules. It includes therefore many who were not Buddhists, and also even Brahmans if they had joined the Buddhists or Gains, or any other of the non-conforming. bodies. The Samanas remained in one place during the rains, and for the rest of the year wandered from place to place, promulgating their particular views. They were not necessarily ascetics in any strict use of that term; though they were usually celibates.

8:1 So called because he was said to have been born in a cowshed. See the Sumangala, p. 143. All these six teachers were contemporaries of the Buddha, and lived therefore about five hundred years before Milinda.

8:2 All this is a mere echo of the opening paragraphs in the Sâmañña-phala (D. 2), where Agâtasattu is described as visiting these six famous sophists. And the plagiarism is all the more inartistic as the old names are retained, and no explanation is given of their being born twice at an interval of five hundred years. One may indeed ask what is a glaring anachronism to our good Buddhist romancer compared with the advantage of introducing the stock-names when he has to talk of heretics? But the whole book is so full of literary skill, that it is at least strange that its author should have made this blunder; and there are other reasons for thinking the whole episode an interpolation. (See note on §§ 13, 15.) So that probably our § 15 came originally immediately after § 10, and then (after the episode in §§ 15-36) § 37 takes up the narrative interrupted at the end of § 10.

9:1 Avîki (probably ‘the Waveless’). The mention of this particular hell as being outside the earth is noteworthy. One would expect to find the Lokântarika hell so described. Spence Hardy indeed goes so far as to say that the Avîki is seven hundred miles directly under the great Bo Tree at Budh Gâyâ (Manual, p. 26), which would be within the sphere of the earth. But there is nothing in the Pâli texts yet published as to its position. See Kullavagga VII, 4, 8; Anguttara III, 56; Gâtaka I, 71, 96; Pañka Gati Dîpana, 20. There is a list of the hells at Sutta Nipâta III, 10, but the Avîki is not one of them. This blunder, improbable in a writer so learned as our author elsewhere shows himself, is another reason for thinking these sections to be an interpolation.

9:2 Pattakkhando pagghâyanto. See my note on Kullavagga IV, 4, 7, and compare Anguttara III, 73, 4.

9:3 This, again, is most clumsy, as the rival teachers must have dwelt far apart. And it will be seen that, notwithstanding the parade of the six names at the beginning of this episode, the remaining four are no further mentioned.

 

10:1 This is quite in accord with the opinions attributed to Makkhali Gosâla in the Sâmañña-phala (D. 2, 20), and in the Sumangala Vilâsinî on it (see especially p. 166).

10:2 See below, p. 30.

10:3 This is an echo of the words in the corresponding passage of the Sâmañña-phala Sutta (D. 2, 1).

11:1 This paragraph is so unnecessary after what has been said in the preceding episode, and at the same time so contradictory to the fact of two teachers at least living in or near the city, that it would really seem probable that it (or perhaps § 14) came originally directly after § 10, the rest being an interpolation, and a clumsy one.

11:2 These are the principal gods of the Vedic pantheon.

14:1 Patimâneti. Childers does not give this meaning to the word. But it is the usual one. Compare Sumangala, vol. i, pp. 276, 280; Vinaya Pitaka IV, 212; Kullavagga, VI, 13, 2; Gâtaka II, 423.

14:2 This is a famous place in Buddhist story. It is at the extreme limit, to the East, of the Buddhist Holy Land, the ‘Middle Country.’ See Sumangala Vilâsinî on D. 2, 40 (p. 173); Mahâvagga V, 13,12; Gâtaka I, 49.

15:1 This is the ordinary polite formula used by an Indian peasant when he wishes to express his inability (or his disinclination) to give food to a mendicant friar.

16:1 This custom is a rule with the mendicant friars. It is their way of ‘returning thanks,’ as we should say. See below, p. 25.

17:1 Suvavatthâpitâ, or perhaps its use in ceremonies or sacrifices. The phrase only occurs in this passage. It is literally, ‘The three Vedas were well fixed by the boy.’ Hînati-kumburê simply repeats the word.

17:2 On the exact force of the special terms translated in these clauses, one may further compare the corresponding phrases used of learning the Buddhist texts in Kullavagga IV, 14, 17; IX, 5, 1.

17:3 The above are the stock phrases for the learning of a scholarly Brahman, and one or two points in the details are uncertain.

19:1 This odd idea of the ‘impediments’ in the wearing of hair and beard is in accord both with modern habits of shaving, and also with a good deal of early Christian and mediaeval ethics.

9:2 The lust of the eye, of the ear, &c.

 

20:1 Under the rules of the Buddhist Order any one can leave it as soon as he likes.

21:1 Compare, for instance, p. 125 of the edition of this summary of Buddhist ethical psychology, edited for the Pâli Text Society, by Dr. Edward Müller, of Bern (London, 1885).

21:2 The six kinds of discrimination (Paññatti) referred to, are those set out in § 1 of the Puggala. The work itself is an ethical tractate dealing only with the last of the six (the discrimination of individuals). See the edition by Dr. Morris, published by the Pâli Text Society (London, 1883).

23:1 It would be against the rules to go at once, during the rains, to Sâgala. So he would spend that time in preparation.

25:1 See the note above, p. 15.

25:2 Suññatâ, used here in the sense of Nirvâna. Compare Anguttara II, 5, 6; Gâtaka III, 191; Kullavagga XII, 2, 5.

25:3 Dhamma-kakkhu. This perception of the impermanency of all things and all beings is called ‘the Eye for the Truth,’ and is the sign of the entrance upon the path to Arahatship, i. e. Nirvâna. It is the same among Buddhists as conversion is among the Christians. Compare Acts xxvi. 18 (‘Open their eyes, and turn them from darkness to light, and from the power of Satan unto God’) and other similar passages.

25:4 Vipassanâ. Childers says this is an attribute of Arahatship and Trenckner translates it ‘superior intelligence.’ But Arahats p. 26 only have it, because they have all the powers possessed by those in the previous stages of the path, and it is only superior as being above and beyond the intelligence of the worldly wise, or even of the mere moralist. it is less than the ‘Divine Eye,’ and Nâgasena was not yet an Arahat. Compare the passages quoted by Childers under Dhamma-kakkhu and Dibba-kakkhu, and also Mahâvagga I, 6, 33; Gâtaka I, 140; Sumangala Vilâsinî, 237, 278.

26:1 Yoganas: that is, leagues of seven miles each. See my ‘Ancient Coins and Measures of Ceylon,’ p. 16, in Thomas’s ‘Numismata orientalia,’ vol. i.

28:1 Pitakas. This expression is not used in the sacred books of the canon itself. When it first came into use is unknown. This is the earliest passage in which it has hitherto been found in the technical sense of a division of the Scriptures. It was in full use at the time of Buddhaghosa (see the Sumangala Vilâsinî, pp. 15, 16, 17, 18, &c., and the Samanta Pâsâdikâ, printed in Oldenberg’s ‘Vinaya Pitaka,’ vol. iii, p. 293). The tertium quid of the comparison is not the basket or the box as a receptacle for preservation, but as a means of handing on (as Eastern navvies removing earth put it into baskets and pass these latter on from hand to hand). So the expression ‘three baskets’ means not ‘the three collections,’ but ‘the three bodies of oral tradition as handed down from teacher to teacher.’ See Trenckner’s decisive argument in his ‘Pâli Miscellanies,’ pp. 67-69.

29:1 The four Patisambhidâs, which form the subject of one of the books of the Sutta Pitaka.

30:1 Isi-vâtam parivâtam (nagaram) akamsu. The meaning of this phrase, which has not been found elsewhere, is doubtful. Trenckner renders ‘making it respire the odour of saints.’ The literal translation would be ‘making it blown round about by Rishi-wind.’ Perhaps it may be meant to convey the idea of ‘scented with the sweet breath of the wise.’ But in any case the connotation is intended to be a pleasant one. Calling to mind the analogous phrase viganavâtam ârâmam, ‘a hermitage with breezes from the desert.’ (Mahâvagga I, 22, 17 = Kullavagga VI, 4, 8) I venture to suggest the rendering adopted above. Hînati-kumburê (p. 24) has Rishiwarayange gamanâgamanayem ganita wa kîvara wâtayem pratiwâtaya kalâhuya. ‘They set its air in commotion produced by the waving of the robes of the coming and going Rishis.’

30:2 We here take up the original episode of Milinda as interrupted at § 15 (or if there is an interpolation at § 10).

31:1 See my ‘Buddhist Suttas,’ pp. 153-155. There is nothing about the eighteen kolis in the Pitaka text referred to.

31:2 No. 20 in the Dîgha Nikâya.

31:3 In the Mahâ Mangala, translated in my ‘Buddhism,’ pp. 125-127.

32:1 Sama-kitta-pariyâya Suttanta. It is not certain which Sutta is here referred to. Trenckner identifies it with a short Sutta in the Anguttara (II, 4, 5). It is true that the ten short Suttas in A. II, 4 are (in the Burmese MSS. only) called collectively Sama-kitta-pariyâya. But the separate Suttas have no separate titles; the title of the Vagga is not found in the Simhalese MSS., and is probably later than the text; and it is not, after all, identical with the title here given.

32:2 There are several Suttas of this name in the Pâli Pitakas. The one referred to here (and also, it may be added, in the Asoka Edicts) is probably the shorter one (Kûla Râhulovâda Sutta) found both in the Magghima (No. 147) and in the Samyutta (XXXIV, 120). See Trenckner’s note on this passage.

 

32:3 This way of looking at gods as laymen, still ‘in the world,’ is thoroughly Buddhist.

32:4 The dhutangas, enumerated by Childers sub voce.

33:1 See above, p. 10 § 14.

34:1 This is always explained as wise in the Buddhist Vedas, that is, the three Pitakas.

34:2 Patisambhidâs: see above, the note on p. 29.

34:3 Pârami-ppatto. This is an unusual use of Pârami, but it occurs again below, p. 36, in a similar connection, and there can be no doubt of its meaning. Trenckner translates it ‘better than any one else.’

35:1 Dhamma-yûpam; with allusion to the sacred sacrificial post, which plays so great a part in Brahman ritual.

35:2 Literally ‘with eighty thousand:’ but this merely means to say, with a large (undefined) number. See the use of the phrase in the Nâlapâna Gâtaka (Fausböll, No. 20).

36:1 See above, p. 34, note 3.

36:2 The name itself, which means ‘Chief of Nâga Snakes,’ is p. 37 terrible enough, especially as the Nâgas were looked upon as supernatural beings. But it is no doubt also intended that the king had heard of his fame.

37:1 Mandala-mâla, that is a hall consisting only of a roof, supported by pillars which are connected by a dwarf wall two or three feet in height. The roof projects beyond the pillars, so that the space within is well shaded. it is a kind of open air drawing-room attached to most hermitages, and may be so small that it can be rightly rendered arbour (see above, p. 25), or sufficiently large to accommodate a considerable number. Usually of wood, sometimes of stone, it is always graceful in appearance and pleasant to use. It is mentioned in the corresponding passage of the Sâmañña Phala (D. II, 10).

38:1 This again, like the passage at p. 8, is an echo of the Sâmañña Phala. (See D. 2, 10 of our forthcoming edition, or p. 116 of Grimblot.)

38:2 In the corresponding passage of the Sâmañña Phala Gîvaka points out the Buddha to Agâtasattu (§ 11, Grimblot, p. 117). This would be in the memory of all his readers, and our author alters the story in this case to show how superior Milinda was to the royal interlocutor in the older dialogue.

 

39:1 See note on p. 1. This book closes in Hînati-kumburê’s Simhalese version with the title ‘Pûrwa Yoga yayi;’ and is of course identical with the Pubba-yoga referred to above, p. 4, as the first division of the work.

 

Chú thích

1] Nhiều học giả xác định Yonaka là một vùng thuộc nước Greece (Hy Lạp).

[2] Sáu vị này là đồng thời với đức Phật Gotama, nhiều học giả đã lưu ý và luận về điểm này.

[3] Sự xưng hô ở đây và các câu đối thoại bên dưới đều dùng ngôi thứ nhất và thứ hai số nhiều.

[4] Văn bản của Miến Điện và của Pali Text Society đã ghi là không hoan hỷ (anattamano).

[5] Cậu bé xưng hô với đại đức Rohaṇa bằng ngôi thứ hai số ít, trong khi ở phần trước người cha xưng hô bằng ngôi thứ hai số nhiều (ND).

[6] Chú thích về các bài Kinh đã được trích dẫn:

– Mahāsamayasutta: là bài Kinh số 20 của Trường Bộ.

– Mahāmaṅgalasutta: được tìm thấy ở hai nơi là Kinh Tập, chương II, bài kinh số 4, và Tiểu Tụng, phần V.

– Samacittapariyāyasutta: Ở Tăng Chi Bộ, có chương Samacittavagga ở phần pháp 2 chi.

– Rāhulovādasutta: Ở Trung Bộ, có ba bài kinh mang tựa Rāhulovāda là kinh Ambalaṭṭhikarāhulovādasuttaṃ (số 61), Mahārāhulovādasuttaṃ (số 62), và Cūḷarāhulovādasuttaṃ (số 147).

– Parābhavasutta: Có hai bài kinh mang cùng tên parābhasuttaṃ, ở Tăng Chi Bộ, phần pháp 7 chi, chương III, và ở Kinh Tập, chương I, bài kinh số 6.

[7] Đã được dịch âm là thu đông, đầu đà (dhutaṅga).

 

Sources:

Tài liệu tham khảo:

  1. http://budsas.net/uni/u-kinh-mitien/mitien-00.htm
  2. http://www.tamtangpaliviet.net/VHoc/45/Mil_01.htm#01
  3. http://www.sacred-texts.com/bud/sbe35/sbe3503.htm
  4. http://globalbuddhismcommunity.com/vi-vn/Dictionary/AVThienPhuc/dtsr.aspx