Chapter 8 – Tiền Kiếp Và Luân Hồi Có Thật Không? – Many Lives, Many Masters – Song ngữ

English: Dr. Brian L. Weiss.

Việt ngữ: Thích Tâm Quang.

Compile: Lotus group.

Chapter 8 – Tiền Kiếp Và Luân Hồi Có Thật Không? – Many Lives, Many Masters

Three weeks passed before our next session. On ray vacation, lying on a tropical beach, I had the time and distance to reflect on what had transpired with Catherine: hypnotic regression to past lives with detailed observations and explanations of objects, processes, and facts-which she had no knowledge of in her normal, waking state; improvement in her symptoms through the regressions-improvement not even remotely achieved by conventional psychotherapy over the first eighteen months of treatment; chillingly accurate revelations from the after-death, spiritual state, conveying knowledge she had no access to; spiritual poetry, and lessons about the dimensions, after death, about life and death, birth and rebirth, from Master Spirits who spoke with a wisdom and in a style well beyond Catherine’s capabilities. There was, indeed, a lot to contemplate.

Ba tuần lễ trôi qua trước buổi thôi miên kế tiếp. Vào kỳ nghỉ hè của tôi, nằm dài ở một bãi biền miền nhiệt đới, tôi có thì giờ và khoảng cách để ngẫm nghĩ những gì đã diễn ra với Catherine: đi ngược lại tiền kiếp bằng thôi miên lùi với những quan sát chi tiết và giải thích các vật thể, các tiến trình, và những dữ kiện – mà cô không có kiến thức trong trạng thái bình thường lúc tỉnh; giảm bớt những triệu chúng của cô qua những buổi thôi miên lùi về dĩ vãng; không thuyên giảm chút nào đợt trị bệnh thông thường trong mười tám tháng bằng tâmlý trị liệu; những tiết lộ chính xác khủng khiếp từ trạng thái tinh thần sau cái chết, chuyển tải kiến thức mà cô không được phép biết đến; chất thẩm mỹ tinh thần, và những bài học về những phương chiều không gian sau khi chết, về sự sống và cái chết, sinh và tái sinh, từ các Thần Linh Bậc Thầy nói bằng trí tuệ và một kiểu cách rất hay vượt xa khả năng của Catherine. Quả thật có rất nhiều cái để suy ngẫm.

 

Over the years I had treated many hundreds, perhaps thousands, of psychiatric patients, and they reflected the entire spectrum of emotional disorders. I had directed inpatient units at four major medical schools, I had spent years in psychiatric emergency rooms, outpatient clinics, and various other settings, evaluating and treating outpatients. I knew all about the auditory and visual hallucinations and the delusions of schizophrenia, I had treated many patients with borderline syndromes and hysterical character disorders, including split or multiple personalities, I had been a Career Teacher in Drug and Alcohol Abuse, funded by the National Institute of Drug Abuse (NIDA), and I was very familiar with the gamut of drug effects on the brain.

Qua nhiều năm tôi đã trị bệnh cho hàng trăm có lẽ hàng ngàn những bệnh nhân tâm thần, và họ đã phản ảnh toàn bộ phạm vi rối loạn xúc cảm. Tôi đã quản lý các phòng bệnh nhân nội trú ở bốn trường y khoa lớn. Tôi đã làm nhiều năm trong các phòng cấp cứu tâm thần, những bệnh xá bệnh nhân ngoại trú, và nhiều cơ sở khác đánh giá và điều trị bệnh nhân ngoại trú. Tôi hoàn toàn biết về những ảo giác của thính và thị giác và những ảo giác của bệnh loạn tinh thần. Tôi đã điều trị nhiều bệnh nhân có những triệu chứng gần như điên và những rối loạn có tính cuồng loạn, kể cả những người mắc chứng tâm thần phân lập hay đa lập. Tôi đã là một giáo viên chuyên nghiệp trong việc bài trừ Ma túy và Rượu chè, được tài trợ bởi Viện Quốc Gia Bài Trừ Ma Túy, và tôi rất quen thuộc với toàn bộ tác động của ma túy lên bộ não.

 

The gamut of drug effects on the brain.

 

Catherine had none of these symptoms or syndromes. What had occurred was not a manifestation of psychiatric illness. She was not psychotic, not out of touch with reality, and she had never suffered from hallucinations (seeing or hearing things not actually there) or delusions (false beliefs).

Catherine không có một trong những triệu chứng hay hội chứng ấy. Điều đã xẩy ra không phải là biểu lộ của bệnh tâm thần. Cô không bị loạn tinh thần hay không va chạm với thực tế, và cô cũng chưa bao giờ bị ảo giác (Nhìn hay nghe những thứ thực ra không ở đó hay ảo tưởng (niềm tin sai).

 

She did not use drugs, and she had no sociopathic traits. She did not have a hysterical personality, and she did not have dissociative tendencies. That is, she was generally aware of what she was doing and thinking, did not function on “automatic pilot,” and had never had any split or multiple personalities. The material she produced was often beyond her conscious capabilities in both style and content. Some of it was particularly psychic, such as the references to specific events and facts from my own past (e.g., the knowledge about my father and my son), as well as from her own. She had knowledge that she had never had access to, or accumulated, in her present life. This knowledge, as well as the whole experience, was alien to her culture and upbringing and contrary to many of her beliefs.

Cô không dùng ma túy và cũng không có những nét hành sử bất thường. Cô không có cá tính cuồng loạn, và cô không có khuynh hướng chia rẽ. Tức là, cô thường nhận thức được cái cô đang làm và suy nghĩ và không hành động theo một “hướng tự động” chưa bao giờ có cá tính bị tâm thần phân lập hay đa lập. Những việc cô đưa ra thường vượt quá khả năng ý thức của cô cả về kiểu cách lẫn nội dung. Một số trong đó đặc biệt tâm linh, như việc nhắc đến những biến cố rõ ràng và những dữ kiện về quá khứ của tôi (tức là biết về cha tôi và con tôi), cũng như về chính cô. Cô có kiến thức mà cô chưa bao giờ được biết, hay tích lũy, trong hiện kiếp. Kiến thức này, cũng như toàn bộ kinh nghiệm, xa lạ với văn hóa và giáo dục của cô và trái ngược với nhiều niềm tin của cô.

 

Catherine is a relatively simple and honest person. She is not a scholar, and she could not have invented the facts, details, historical events, descriptions, and poetry that came through her. As a psychiatrist, a scientist, I was certain that the material originated from some portion of her unconscious mind. It was real, beyond any doubt. Even if Catherine were a skilled actress, she could not have recreated these happenings. The knowledge was too accurate andtoo specific, lying beyond her capacity.

Catherine là một người khá đơn giản và thật thà. Cô không phải là một học giả, và cô không thể tạo ra các dữ kiện, chi tiết, những biến cố lịch sử, mô tả và chất thơ phát ra qua cô. Là một bác sĩ tâm thần, một nhà khoa học gia, tôi chắc chắn là sự việc này có gốc từ một phần của cái tâm vô thức của cô. Điều đó là thật, vượt qua bất cứ nghi kỵ nào. Dù cho Catherine là một diễn viên giỏi, cô không thể nào tái tạo được những cái xẩy ra ấy. Sự am hiểu quá chính xác, và quá rõ ràng, vượt qua khả năng của cô.

 

I pondered the therapeutic purpose of exploring Catherine’s past lives. Once we had stumbled into this new realm, her improvement was dramatically rapid, without any medicine. There is some powerful curative force in this realm, a force apparently much more effective than conventional therapy or modern medicines. The force includes remembering and reliving not just momentous traumatic events, but also the daily insults to our bodies, minds, and egos. In my questions, as we scanned lifetimes, I was looking for the patterns of these insults, patterns such as chronic emotional or physical abuse, poverty and starvation, illness and handicaps, persistent persecution and prejudice, repeated failures, and so on. I also kept an eye out for those more piercing tragedies, such as a traumatic death experience, rape, mass catastrophe, or any other horrifying event that might leave a permanent imprint. The technique was similar to reviewing a childhood in conventional therapy, except that the timeframe was several thousand years, rather than the usual ten or fifteen years. Therefore, my questions were more direct and more leading than in conventional therapy. But the success of our unorthodox exploration was unquestionable. She {and others I later would treat with hypnotic regression] was being cured with tremendous rapidity.

Tôi cân nhắc mục đích trị liệu trong việc khảo sát quá khứ của Catherine. Một khi chúng tôi đã bước chân vào lĩnh vực mới này, bệnh tình của cô thuyên giảm hết sức nhanh chóng, mà không dùng thứ thuốc nào. Có một sức mạnh trị bệnh nào đó trong lĩnh vực này, một sức mạnh dường như hiệu quả nhiều hơn cách chữa trị thông thường hay y khoa hiện đại. Sức mạnh này gồm cả việc nhớ lại và sống lại không chỉ trong những biến cố chấn thương ngắn ngủi mà còn là các chấn thương hàng ngày tác động đến thân thể, tâm trí và cái ngã của chúng ta. Trong những câu hỏi của tôi, khi chúng tôi khảo sát các kiếp sống, tôi đang tìm kiếm nét điển hình cho những chấn thương này, kiểu như xúc cảm kinh niên hay bị lạm dụng thể chất, nghèo khổ và chết đói, bệnh và tàn tật, bị ngược đãi liên miên và thành kiến, những thất bại liên tiếp và vân vân… Tôi cũng chú ý đến những thảm kịch bi thương, như lâm vào tình trạng thập tử nhất sinh, hiếp dâm, thảm họa hàng loạt, hoặc bất cứ biến cố hãi hùng nào để lại vết hằn lâu dài. Kỹ thuật này cũng tương tự như xem lại thời thơ ấu trong cách trị liệu thông thường, ngoại trừ khung thời gian là vài ngàn năm, đúng hơn là mười, mười lăm năm theo thường lệ. Cho nên câu hỏi của tôi trực tiếp hơn, và dẫn dắt nhiều hơn cách trị liệu thông thường. Nhưng sự thành công trong khảo sát không chính thống của chúng tôi thì không thể nghi ngờ được. Cô ấy (và những người khác sau này, được trị liệu bằng thôi miên lùi về dĩ vãng) đang được chữa lành nhanh chóng lạ thường.

 

But were there other explanations for Catherine’s past-life memories? Could the memories be carried in her genes? This possibility is scientifically remote. Genetic memory requires the unbroken passage of genetic material from generation to generation. Catherine lived all over the earth, and her genetic line was interrupted repeatedly. She would die in a flood with her offspring, or be childless, or die in her youth. Her genetic pool ended and was not transmitted. And what of her survival after death and the in-between state? There was no body and certainly no genetic material, and yet her memories continued. No, the genetic explanation had to be discarded.

Nhưng có thể có cách giải thích nào khác cho những ký ức tiền kiếp của Catherine không? Có thể nào những ký ức này được mang theo trong gen của cô? Khả năng này là mơ hồ về mặt khoa học. Ký ức di truyền đòi hỏi truyền liên tục vật chất di truyền từ thế hệ này đến thệ hệ kia. Catherine đã sống trên khắp trái đất, và tuyến di truyền của cô bị ngắt quãng nhiều lần. Cô bị chết trong cơn lụt với con cái, hay không có con, hay chết lúc còn trẻ. Vốn liếng di truyền của cô đã chấm dứt và không được truyền lại. Và sự sống sót sau khi chết và tình trạng nửa nọ nửa kia là gì? Không có xác thân và chắc chắn là không có vật chất di truyền, thế mà những ký ức của cô đã tiếp tục. Không, sự giải thích về di truyền phải được loại bỏ.

 

“Do you know what the oils are used for?”

“I don’t know.” “Do you see yourself? Look at yourself. Tell me what you look like. “She paused as she observed herself. “I have a braid. There’s a braid in my hair. I have some type of long . . . long-material garment on. It has a gold border around the outside.” “Do you work for these priests-or the men-with the shaved heads?” “It is my job to seal the jars with the wax. That’s my job.” “But you don’t know what the jars are used for?” “They appear to be used in some religious ritual. But I’m not sure . . .what it is. There’s some anointing, something on the heads . . .something on your heads and your hands, your hands. I see a bird, a gold bird, that’s around my neck. It’s fiat. It has a flat tail, a very flat tail, and its head is pointing down … to my feet.”

“Cô có biết dầu để làm gì không?”

“Tôi không biết””Cô có nhìn thấy chính cô không? Hãy nhìn vào chính cô. Cho tôi biết trông cô như thế nào.” Cô ngưng lại và quan sát chính mình. “Tôi có một cái bím tóc. Có một cái bím trên tóc tôi. Tôi có một loại dài … một loại áo dài. Nó có viền vàng chung quanh bên ngoài.””Cô có làm việc cho những thầy tu này – hay những người trọc đầu này không?”” Công việc của tôi là niêm kín những cái vại bằng sáp. Đó là công việc của tôi.””Nhưng cô không biết những cái vại này dùng làm gì à?””Hình như những thứ này để dùng trong nghi lễ tôn giáo. Nhưng tôi không chắc chắn… cái đó là gì. Có việc xức dầu nào đó, trên đầu… thứ gì đó trên đầu ông, trên tay ông. Tôi nhìn thấy một con chim, một con chim vàng, nó quanh quẩn ở cổ tôi. Nó dẹt. Nó có cái đuôi dẹt, một cái đuôi rất dẹt, và đầu nó chĩa xuống … chân tôi.

 

“To your feet?”

“Yes, that’s the way it must be worn. There’s a black . . . black sticky substance. I don’t know what it is.” “Where is it?” “It’s in a marble container. They use that, too, but I don’t know what for.” “Is there anything in the cave for you to read so that you can tell me the name of the country-the place-where you live, or the date?” “There’s nothing on the walls; they’re empty. I do not know the name.” I progressed her in time. “There’s a white jar, some type of white jar. The handle on the top is gold, some type of gold inlay on it.” “What is in the jar?” “Some type of ointment. It has something to do with the passage into the other world.” “Are you the person to be passing now?” “No! It is no one I know.” “Is this your job, too? To prepare people for this passage?” “No. The priest must do that, not me. We just keep them supplied with the ointments, the incense. . ..”

“Chân cô?”

“Vâng, đó là cách phải mặc. Có một chất… một chất bầy nhầy đen. Tôi không biết nó là gì””Chất đó ở đâu?””Nó được đựng trong một cái bình cẩm thạch. Họ dùng cái đó, tôi không biết cái đó để làm gì.””Có cái gì ở trong hang để cô đọc, do đó cô có thể nói cho tôi biết tên của xứ này – chỗ này -nơi mà cô ở, hay ngày tháng?” “Không có gì ở trên tường, tường trống trơn. Tôi không biết tên”. Tôi bảo cô tiếp tục đi xa hơn.”Tôi thấy cái vại trắng, một loại vại trắng. Cái tay cầm ở phần trên bằng vàng , một loại vàng dát trên nó.””Cái gì trong vại đó?””Một loại dầu xức. Một cái gì đó gì đó để qua bên kia thế giới.””Cô có phải là người đang đi sang bây giờ phải không?””Không. Không ai cả theo tôi biết.””Phải chăng đây là công việc của cô?” “Sửa soạn cho người ta để đi qua”.”Không. Thầy tu làm việc đó, chứ không phải là tôi. Chúng tôi chỉ là người tiếp dầu sức, hương cho họ…”

 

“About how old do you appear to be now?”

“Sixteen.”

“Are you living with your parents? ”

“Yes, a stone house, some type of stone dwelling. It’s not very large. It’s very hot and dry. The climate is very hot.” “Go to your house.” “I’m there.” “Do you see other people around in your family?” “I see a brother, and my mother is there, and a baby, somebody’s baby.” “Is that your baby?” “No.” “What is significant now? Go to something significant that explains your symptoms in your current lifetime. We need to understand. It is safe to experience it Go to the events.” She answered in a very soft whisper. “Everything in time. … I see people dying.”

“Bây giờ cô khoảng bao nhiêu tuổi?”

“Mười sáu tuổi.”

“Cô đang sống với cha mẹ phải không?””Phải, ở một cái nhà bằng đá, một loại nhà ở bằng đá. Nó không thật lớn. Ngôi nhà nóng và khô. Khí hậu rất nóng.””Hãy đi vào trong nhà””Tôi ở đấy””Cô có nhìn thấy người khác trong gia đình cô ở quanh đó không?”

“Tôi thấy một người anh, và mẹ tôi cũng ở đấy, và một em bé, một đứa bé của người nào đó.””Có phải đứa bé của cô không?””Không””Cái gì có ý nghĩa bây giờ? Hãy đi tới cái gì có ý nghĩa giải thích những triệu chứng của cô trong hiện kiếp. Chúng ta cần phải hiểu. Thận trọng để đi qua điều đó. Hãy đi tới những biến cố.”Cô trả lời bằng giọng thì thào rất dịu dàng. “Mọi thứ đều đúng lúc…. Tôi thấy người ta đang chết.”

 

“People dying?”

“Yes . . . they don’t know what it is.” “An illness?” Suddenly it dawned on me that she was again touching on an ancient lifetime, one that she had regressed to previously. In that lifetime, a water-borne plague had killed Catherine’s father and one of her brothers. Catherine had also suffered from the illness, but she had not died from it. The people used garlic and other herbs to try to ward off the plague. Catherine had been upset because the dead were not being properly embalmed. But now we had approached that lifetime from a different angle. “Does it have something to do with the water?” I asked. “They believe so. Many people are dying.” I already knew the ending. “But you don’t die, not from this?” “No, I do not die.” “But you get sick. You become ill.” “Yes, I’m very cold . . . very cold. I need water . . . water. They think it comes from the water… and something black. . .. Someone dies.”

“Người ta đang chết”

“Phải… họ không biết đó là gì.””Một chứng bệnh”. Đột nhiên lóe lên trong tôi là cô lại va chạm vào một kiếp sống thời cổ, một kiếp sống mà trước đây cô đã lùi về. Trong kiếp sống đó, một bệnh truyền nhiễm do nước đã giết chết cha Catherine và một người anh của cô. Catherine cũng bị ngã bệnh nhưng không chết vì bệnh đó. Dân chúng dùng tỏi và dược thảo để tránh bệnh truyền nhiễm này. Catherine đang buồn rầu vì người chết không được ướp đúng cách. Nhưng bây giờ chúng tôi lại tiếp cận với kiếp sống này từ ở một góc độ khác. Tôi hỏi “Có cái gì cần đến nước phải không?” “Họ cũng tin như vậy. Nhiều người đang chết.” Tôi đã biết chung cuộc.”Nhưng cô không chết , không chết vì việc đó””Không, tôi không chết.””Nhưng cô bị bệnh, Cô trở nên đau yếu.””Phải, tôi bị lạnh,… rất lạnh. Tôi cần nước… nước. Họ nghĩ rằng bệnh đến do nước … thứ gì đó đen … người nào đó bị chết.

 

“Who dies?”

“My father dies, and one brother dies also. My mother is okay; she recovers. She’s very weak. They must bury the people. They must bury them, and people are upset because it’s against religious practices.” “What was the practice?” I marveled at the consistency of her recall, fact for fact, exactly as she had recounted the lifetime several months ago. Again, this deviation from the normal burial customs greatly upset her. “People were put in caves. The bodies were kept in caves. But first, the bodies had to be prepared by the priests. They must be wrapped and anointed. They were kept in caves, but the land is flooding. . .. They say the water is bad. Don’t drink the water.”

“Ai chết?”

“Cha tôi chết, và một người anh tôi chết. Mẹ tôi không sao, bà bình phục lại. Bà rất yếu. Họ phải chôn những người này. Họ phải chôn những người đó, và người ta buồn vì việc này ngược với tập tục tôn giáo. “

“Tập tục đó là gì?” Tôi ngạc nhiên trước sự nhất quán trong việc nhớ lại, từng sự việc một, đúng như cô đã kể kiếp sống này vài tháng trước đây. Thêm nữa, sự thay đổi tập tục chôn cất khiến cô buồn nhiều.”Người được bỏ trong hang. Các thi hài được giữ trong các hang. Nhưng trước tiên, xác được các thầy tu sửa soạn. Xác phải được quấn lại và sức dầu. Xác chết được giữ trong hang, nhưng đất đang bị lụt … Họ nói nước bẩn, Đừng uống nước.”

 

“Is there a way of treating it?

Did anything work?”

“We were given herbs, different herbs. The odors . . . the herbs and . . . smell the odor. I can smell it!” “Do you recognize the smell?” “It’s white. They hang it from the ceiling.” “Is it like garlic?” “It’s hung around … the properties are similar, yes. Its properties . . .you put it in your mouth, your ears, your nose, everywhere. The odor was strong. It was believed to block the evil spirits from entering your body. Purple . . . fruit or something round with purple covering, purple skin to it. . ..” “Do you recognize the culture that you’re in? Does it seem familiar?” “I don’t know.” “Is the purple a fruit of some sort?” “Tannis.” “Would that help you? Is that for the illness?” “It was at that time.” “tannis,” I repeated, again trying to see if she was talking about what we refer to as tannin or tannic acid. “Is that what they called it? Tannis?” “I just … I keep hearing ‘Tannis.'” “What in this lifetime has buried itself in your current lifetime? Why do you keep coming back here? What is it that is so uncomfortable?”

“Có cách nào để chữa bệnh không?

Có thứ gì có thể chữa được không?”

“Chúng tôi được uống dược thảo, dược thảo khác nhau. Mùi … dược thảo và …ngửi thấy mùi đó. Tôi có thể ngửi thấy mùi đó! “Cô có nhận ra mùi đó không?” “Nó trắng. Họ treo nó trên trần nhà.””Nó giống tỏi không?” “Nó được treo chung quanh … Nó có đặc tính tương tự, phải. Đặc tính của nó … ông để nó vào miệng, vào tai, vào mũi, khắp mọi nơi. Mùi nó rất mạnh. Người ta tin là nó ngăn chận ma quỷ xâm nhập vào cơ thể. Màu tím… trái cây hay thứ gì đó tròn có vỏ mầu tím, vỏ mầu tím trên nó …” “Cô có nhận ra nền văn hóa mà cô sống không? Văn hóa ấy có quen thuộc không?” “Tôi không biết” “Mầu tím đó là trái cây loại gì đó?” “Tannis” “Thứ này có giúp ích cô không? Có phải để chữa bệnh không?” “Để chữa bệnh vào thời đó.””Tannis”, tôi nhắc lại , một lần tôi xem có phải cô đang nói về cái mà chúng ta nói đến là chất ta nanh hay axít tanic. “Có phải đó là cái mà họ gọi là Tannis?””Tôi chỉ… Tôi chỉ nghe thấy “Tannis” “Cái gì trong kiếp sống đó ẩn mình trong hiện kiếp này? Tại sao cô cứ muốn trở về nơi đây? Cái gì khó chịu quá thế?”

 

“The religion,”

Catherine quickly whispered, “the religion of that time. It was a religion of fear . . . fear. There were so many things to fear… and so many gods.” “Do you remember the names of any gods?” Many Lives, Many Masters “I see eyes. I see a black . . . some type of … it looks like a jackal. He’s in a statue. He’s a guardian of some type … I see a woman, a goddess, with some type of a headpiece on.” “Do you know her name, the goddess?” “Osiris… Sirus . . . something like that. I see an eye . . . eye, just an eye, an eye on a chain. It’s gold.”

“Tôn giáo”,

Catherine thì thào nhanh chóng, “tôn giáo vào thời đó. Đó là tôn giáo của sợ hãi… sợ hãi. Có quá nhiều thứ để sợ… và quá nhiều thần.””Cô có thể nhớ tên của vị thần nào không?” “Tôi nhìn thấy mắt. Tôi nhìn thấy một loại gì đó đen… một loại … nó giống như chó rừng. Nó ở trong bức tượng. Nó là kiểu người canh gác nào đó … Tôi nhìn thấy một người đàn bà, một nữ thần với một loại mũ sắt trên đầu.””Cô có biết tên vị nữ thần?” “Osiris … Sirus … đại loại như vậy. Tôi nhìn thấy một con mắt … con mắt, chỉ một con mắt, một con mắt trên một xâu chuỗi. Chuỗi này bằng vàng.”

 

Horus as the son of Isis and Osiris. In another tradition Hathor

is regarded as his mother and sometimes as his wife.

 

“An eye?”

“Yes. . .. Who is Hathor?” “What?” “Hathor! Who is that!” I had never heard of Hathor, although I knew that Osiris, if the pronunciation was accurate, was the brother-husband of Isis, a major Egyptian deity. Hathor, I later learned, was the Egyptian goddess of love, mirth, and joy. “Is it one of the gods?” I asked. “Hathor! Hathor.” There was a long pause. “Bird . . . he’s flat . . . fiat, a phoenix. . ..” She was silent again, “Go ahead in time now to your final day in that lifetime. Go to your final day, but before you have died. Tell me what you see.” She answered in a very soft whisper. “I see people and buildings. I see sandals, sandals. There is a rough cloth, some type of rough cloth.” “What happens? Go to the time of your dying now. What happens to you? You can see it.” “I do not see it … I don’t see me anymore.” “Where are you? What do you see?”

“Một con mắt?”

” Phải … Ai là Hathor?””Cái gì?””Hathor! Ai đó! Tôi chưa bao giờ nghe thấy Hathor, mặc dù tôi biết đó là Osiris, nếu phát âm này là đúng, là anh chồng của Isis, một vị thần lớn Ai Cập. Sau này tôi biết Hathor là nữ thần Ai Cập của tình yêu, hạnh phúc và niềm vui. Tôi hỏi, “Có phải đó là một trong các vị thần không?””Hathor! Hathor! Ngưng lại hồi lâu. “Con chim … Nó thì dẹt… dẹt, con phượng hoàng…” Cô ta lại im lặng.”Bây giờ hãy tiến tới ngày cuối cùng trong kiếp này. Hãy đi tới ngày cuối cùng, nhưng trước khi chết. Hãy nói cho tôi biết cô nhìn thấy gì.”Cô trả lời bằng một giọng thì thào dịu dàng. “Tôi nhìn thấy người và các tòa nhà. Tôi nhìn thấy dép, dép. Có vải thô, loại vải thô.””Cái gì xẩy ra? Bây giờ hãy tiến tới lúc sắp chết. Cái gì đã xẩy ra cho cô? Cô có thể thấy mà .””Tôi không thấy … Tôi không nhìn thấy tôi nữa.””Bây giờ cô ở đâu? Cô nhìn thấy gì?”

 

“Nothing . . . just darkness. …

I see a light, a warm light.” She had already died, already passed over to the spiritual state. Apparently, she did not need to experience her actual death again. “Can you come to the light?” I asked. “I am going.” She was resting peacefully, waiting again. “Can you look backward now on the lessons of that lifetime? Are you aware of them yet?” “No,” she whispered. She continued to wait. Suddenly she appeared alert, although her eyes remained closed, as they always did when she was in hypnotic trances. Her head was turning from side to side. “What are you seeing now? What’s happening?” Her voice was louder. “I feel . . . someone’s talking to me!” “What do they say?” “Talking about patience. One must have patience. . ..”

“Yes, go on.”

“Không thấy gì… chỉ tối om …

Tôi nhìn thấy ánh sáng, một ánh sáng ấm áp”. Cô đã chết rồi, đã chết và đi vào trạng thái tinh thần. Hiển nhiên, cô không cần phải trải nghiệm cái chết thực sự của cô nữa. Tôi hỏi, “Cô có thể đến với ánh sáng chứ?” “Tôi đang tới đây” Cô đang nghỉ ngơi thanh thản lại chờ đợi. “Cô có thể nhìn lại về những bài học trong kiếp sống đó không? Cô có ý thức được những bài học này không?”Cô thì thào, “Không”. Cô tiếp tục chờ đợi. Đột nhiên, cô dường như tỉnh táo tuy mắt cô vẫn nhắm như thường lệ khi đi vào trạng thái hôn mê thôi miên. Đầu cô trăn trở bên này bên kia. “Bây giờ cô nhìn thấy gì? Cái gì đang xẩy ra?”Giọng cô to lên. “Tôi cảm thấy … người nào đó nói với tôi!””Họ nói gì?””Nói về kiên nhẫn. Người ta phải có kiên nhẫn…”

“Vâng, tiếp tục”

 

The answer came from the poet Master.

“Patience and timing . . .everything come when it must come. A life cannot be rushed, cannot be worked on a schedule as so many people want it to be. We must accept what comes to us at a given time, and not ask for more. But life is endless, so we never die; we were never really born. We just pass-through different phases. There is no end. Humans have many dimensions. But time is not as we see time, but rather in

lessons that are learned.” There was a long pause. The poet Master continued. “Everything will be clear to you in time. But you must have a chance to digest the knowledge that we have given to you already. “Catherine was silent. “Is there more I should learn?” I asked. “They’ve gone,” she softly whispered. “I don’t hear anybody.”

Câu trả lời từ nơi Bậc Thầy thi nhân.

“Kiên nhẫn và đúng lúc …mọi thứ sẽ đến khi nó phải đến. Đời sống không thể vội vàng, không thể hoạt động dựa vào thời khóa biểu như mọi người mong muốn. Chúng ta phải chấp nhận những gì đến với chúng ta vào lúc nhất định, và đừng đòi hỏi gì thêm nữa. Nhưng đời sống là vô tận, cho nên chúng ta không bao giờ chết, chúng ta chưa bao giờ thực sự được sinh ra. Chúng ta chỉ đi qua những giai đoạn khác nhau. Không có chung cuộc. Con người có nhiều phương chiều. Nhưng thời gian không phải như chúng ta thấy, mà đúng hơn là trong những bài học được học.”Ngừng lại khá lâu. Bậc Thầy thi nhân tiếp tục. “Mọi việc sẽ sáng tỏ đúng lúc đối với bạn. Nhưng bạn phải có may mắn để hấp thụ kiến thức mà chúng tôi đã cho bạn.” Catherine im lặng. Tôi hỏi, “Có gì hơn nữa mà tôi phải học không? Cô thì thào dịu dàng, “Họ đi rồi, tôi không nghe thấy ai nữa.”

 

Sources:

Tài liệu tham khảo:

  1. https://tienvnguyen.net/a2066/tien-kiep-va-luan-hoi-co-that-khong-many-lives-many-masters-
  2. https://tienvnguyen.net/images/file/Wful-wTe1ggQAFce/manylivesmanymasters.pdf
  3. https://tienvnguyen.net/images/file/sLziGUbf1ggQALdp/tienkiepvaluanhoicothatkhong.pdf
  4. Photo 2: https://www.pewtrusts.org/en/research-and-analysis/blogs/stateline/2016/12/23/in-drug-epidemic-resistance-to-medication-costs-lives
  5. Photo 3: https://www.123rf.com/photo_46619873_stock-vector-egyptian-gods-hathor-horus-anubis-osiris-vector-illustration.html