Chapter 3 – Tiền Kiếp Và Luân Hồi Có Thật Không? – Many Lives, Many Masters – Song ngữ

English: Dr. Brian L. Weiss

Việt ngữ: Thích Tâm Quang

Compile: Lotus group

Chapter 3 – Tiền Kiếp Và Luân Hồi Có Thật Không? – Many Lives, Many Masters

 

One week later, Catherine bounced into my office for her next hypnosis session. Beautiful to begin with, she was more radiant than ever. She happily announced that her lifelong fear of drowning had disappeared. Her fears of choking were somewhat diminished. Her sleep was no longer interrupted by the nightmare of a collapsing bridge. Although she had remembered the details of her past-life recall, she had not yet truly integrated the material.

Một tuần lễ sau, Catherine nhún nhẩy đến phòng mạch tôi cho buổi thôi miên kế tiếp. Mở đầu rất đẹp, cô trông rạng rỡ hơn bao giờ hết. Cô sung sướng báo rằng nỗi sợ suốt đời bị chết đuối đã biến mất. Nỗi sợ bị nghẹn cũng được giảm bớt một chút. Giấc ngủ của cô không còn bị gián đoạn bởi ác mộng về cầu gẫy. Mặc dù cô nhớ những chi tiết về tiền kiếp, nhưng cô chưa thực sự thâm nhập vào thực chất.

 

The concepts of past lives and reincarnation were alien to her cosmology, and yet her memories were so vivid, the sights and sounds and smells so clear, the knowledge that she was there so powerful and immediate, that she felt she must have actually been there. She did not doubt this; the experience was so over whelming. Yet she was concerned about how this fit in with her upbringing and her beliefs.

Quan niệm về tiền kiếp và luân hồi xa lạ với vũ trụ học của cô, và tuy những ký ức quá sống động, quang cảnh, âm thanh và mùi vị quá rõ ràng, sự nhận biết rằng cô đã ở đấy quá mạnh và trực tiếp, cô cảm thấy hẳn là cô đã thực sự ở đấy. Cô không nghi ngờ gì cả; việc xẩy ra quá mạnh. Tuy cô quan tâm đến việc làm sao điều đó lại thích hợp với sự nuôi nấng và niềm tin của cô.

 

During the week I had reviewed my textbook from a comparative religions course taken during my freshman year at Columbia. There were indeed references to reincarnation in the Old and the New Testaments. In A.D. 325 the Roman emperor Constantine the Great, along with his mother, Helena, had deleted references to reincarnation contained in the New Testament. The Second Council of Constantinople, meeting in A.D. 553, confirmed this action and declared the concept of reincarnation a heresy. Apparently, they thought this concept would weaken the growing power of the Church by giving humans too much time to seek their salvation. Yet the original references had been there; the early Church fathers had accepted the concept of reincarnation. The early Gnostics-Clement of Alexandria, Origen, Saint Jerome, and many others-believed that they had lived before and would again.

Trong tuần đó tôi có xem lại sách giáo khoa từ một khóa dạy về sự so sánh các tôn giáo trong năm đại học đầu tiên của tôi tại Columbia. Quả thật có nhắc đến luân hồi trong Cựu và Tân Ước. Vào năm 325 sau Công nguyên, Hoàng Đế La Mã Constantine Đại Đế, cùng với người mẹ, Hellena, đã hủy bỏ những trang đề cập đến luân hồi ghi trong Tân Ước. Đại Hội Đồng Đệ Nhị tại Constantinople họp vào năm 553 sau Công nguyên, xác nhận việc làm này, và tuyên bố quan niệm luân hồi là một dị giáo. Hiển nhiên, họ nghĩ quan niệm này sẽ làm suy yếu sức mạnh đang lên của Giáo Hội bởi nó cho con người quá nhiều thời gian để tìm sự cứu rỗi. Tuy vậy những dẫn chứng gốc đã là điểm đó, các cha cố trong Giáo Hội cổ đã chấp nhận quan niệm về luân hồi. Những người Ngộ Đạo thời cổ-Clement ở Alexandria, Origen, Saint Jerome, và nhiều khác nữa -tin rằng họ đã sống trước đó và sẽ sống lại nữa.

 

I, however, had never believed in reincarnation. Actually, I had never really spent much time thinking about it. Although my earlier religious training taught about some kind of vague existence of the “soul” after death, I was not convinced about this concept.

Tuy nhiên, tôi không bao giờ tin vào luân hồi. Thực tế là tôi chưa bao giờ bỏ nhiều thì giờ suy nghĩ về việc này. Mặc dù việc dạy dỗ về tôn giáo trước đây của tôi có dạy tôi một loại hiện hữu mập mờ nào đó về “linh hồn” sau khi chết, nhưng quan niệm ấy không thuyết phục được tôi.

 

I was the oldest of four children, all spaced three years apart. We belonged to a conservative Jewish synagogue in Red Bank, a small town near the New Jersey seashore. I was the peacemaker and statesman in my family. My father was more involved with religion than the rest of us were. He took it very seriously, as he took all of life. His children’s academic achievements were the greatest joys in his life. He was easily upset by household discord and would withdraw, leaving me to mediate. Although this turned out to be excellent preparatory training for a career in psychiatry, my childhood was heavier and more responsible than, in retrospect, I would have preferred. I emerged from it as a very serious young man, one who got used to taking on too much responsibility.

Tôi là anh cả của bốn anh em, tất cả cách nhau ba tuổi. Chúng tôi là thành viên của Giáo đường bảo thủ Do Thái ở Red Bank, một thành phố nhỏ gần bờ biển ở New Jersey. Tôi là người hòa giải và chính khách trong gia đình. Cha chúng tôi dính líu vào tôn giáo nhiều hơn tất cả chúng tôi. Ông theo tôn giáo rất nghiêm túc, ông theo tôn giáo suốt cả đời. Thành tích học hành của các con là niềm vui lớn lao nhất trong đời ông. Ông dễ bị bối rối trước sự bất hòa trong gia đình và rút lui để tôi hòa giải. Mặc dầu hóa ra điều đó là sự rèn luyện tuyệt vời cho một sự nghiệp trong tâm thần học, nhưng hồi tưởng lại thời thơ ấu của tôi nặng nề hơn và trách nhiệm nhiều hơn tôi muốn. Tôi nổi bật từ đó là một thanh niên nghiêm nghị, là người quen chịu nhiều trách nhiệm.

 

My mother was always expressing her love. No boundary stood in her way. A simpler person than my father, she used guilt, martyrdom, terminal embarrassment, and vicarious identification with her children as manipulative tools, all without a second thought. Yet she was rarely gloomy, and we could always count on her love and support.

Mẹ tôi luôn luôn biểu lộ lòng thương yêu của bà. Không có giới hạn nào ngăn cản bà. Một người bình dị hơn cha tôi, bà lợi dụng tội lỗi, nỗi thống khổ, sự bối rối cùng cực, và sự đồng cảm chung với các con làm công cụ lôi kéo, hoàn toàn không đắn đo. Tuy nhiên bà ít khi buồn rầu, và lúc nào chúng tôi cũng có thể tin chắc vào tình yêu và sự hỗ trợ của bà.

 

My father had a good job as an industrial photographer, and although we always had plenty of food, money was very tight. My youngest brother, Peter, was born when I was nine. We had to divide six people into our small two-bedroom garden apartment.

Cha tôi có một công việc tốt, nhiếp ảnh công nghệ, và tuy chúng tôi luôn có nhiều thực phẩm, nhưng tiền bạc rất eo hẹp. Người em út của tôi, Peter, sinh ra năm tôi 9 tuổi. Sáu người gia đình chúng tôi chia nhau trong hai căn phòng ngủ nhỏ.

 

Life in this small apartment was hectic and noisy, and I sought refuge in my books. I read endlessly when not playing baseball or basketball, my other childhood passions. I knew that education was my path out of the small town, comfortable as it was, and I was always first or second in my class.

Sinh hoạt trong căn phòng nhỏ này thật là bề bộn và ồn ào, và tôi tìm nơi nương tựa ở sách vở. Tôi không ngừng đọc sách khi không chơi bóng chày hay bóng rổ, những đam mê khác ở thời thơ ấu của tôi. Tôi biết học hành là con đường ra khỏi thành phố nhỏ này, yên tâm với ý nghĩ đó, tôi luôn luôn đứng thứ nhất nhì trong lớp học.

 

By the time I received a full scholarship to Columbia University, I was a serious and studious young man. Academic success continued to come easily. I majored in chemistry and was graduated with honors. I decided to become a psychiatrist because the field combined my interest in science and my fascination with the workings of the human mind. In addition, a career in medicine would allow me to express my concern and compassion for other people. In the meantime, I had met Carole during a summer vacation at a Catskill Mountain hotel where I was working as a busboy and she was a guest. We both experienced an immediate attraction to each other and a strong sense of familiarity and comfort. We corresponded, dated, fell in love, and were engaged by my junior year at Columbia. She was both bright and beautiful. Everything seemed to be falling into place. Few young men worry about life and death and life after death, especially when things are flowing smoothly, and I was no exception. I was becoming a scientist and learning to think in a logical, dispassionate, “prove-it” kind of way.

Vào lúc tôi được học bổng toàn phần của trường Đại Học Columbia, tôi là một thanh niên đứng đắn và chăm chỉ. Thành công đại học đến với tôi dễ dàng. Tôi theo ngành hóa học và tốt nghiệp với bằng danh dự. Tôi quyết định trở thành bác sĩ tâm thần vì lĩnh vực này gồm cả sự quan tâm đến khoa học và thích thú của tôi với nhiều công việc về tâm con người. Hơn nữa, nghề y khoa sẽ cho phép tôi bày tỏ sự quan tâm và lòng trắc ẩn với người khác. Trong lúc đó tôi gặp Carole trong kỳ nghỉ hè tại khách sạn Catskill Mountain, nơi tôi đang là hầu bàn phụ và Carole là chiêu đãi viên. Chúng tôi nếm mùi lôi cuốn lẫn nhau ngay và cảm giác thân tình và thoải mái mạnh mẽ. Chúng tôi thư từ, hẹn hò, yêu nhau, đính hôn vào năm tôi ở năm thứ hai trường Đại Học Columbia. Nàng vừa thông minh vừa đẹp. Mọi sự dường như rơi vào đúng chỗ. Một số ít có người trẻ tuổi lo về đời sống và cái chết và đời sống sau cái chết, nhất là khi mọi thứ trôi chẩy êm đềm, và tôi cũng không phải là ngoại lệ. Tôi đang trở thành một khoa học gia, và đang học cách suy nghĩ theo kiểu cách lô gic, vô tư, “chứng minh đúng”.

 

Medical school and residency at Yale University further crystallized this scientific method. My research thesis was on brain chemistry and the role of neurotransmitters, which are chemical messengers in the brain tissue.

Hơn nữa, trường y khoa và khu nội trú ở Đại Học Yale đã kết tinh phương pháp khoa học này. Luận án nghiên cứu của tôi là về não bộ hóa chất và vai trò của thần kinh truyền tin là những thông tin hóa chất trong mô não.

 

I joined the new breed of biological psychiatrists, those merging the traditional psychiatric theories and techniques with the new science of brain chemistry, I wrote many scientific papers, lectured at local and national conferences, and became quite a hotshot in my field. I was a bit obsessive, intense, and inflexible, but these were useful traits in a physician. I felt totally prepared to treat any person who walked into my office for therapy.

Tôi theo ngành mới về tâm sinh lý, ngành hợp nhất những lý thuyết và kỹ thuật tâm thần truyền thống mới về hóa chất bộ não. Tôi viết nhiều bài về khoa học, thuyết giảng tại các hội nghị địa phương và toàn quốc, và trở thành một người năng động thành công trong lĩnh vực của tôi. Tôi hơi bị ám ảnh, sôi nổi và cứng rắn, nhưng đó là những điểm hữu ích cho một thầy thuốc. Tôi cảm thấy hoàn toàn sẵn sàng để chữa trị cho bất cứ ai bước vào phòng mạch tôi để chữa bệnh.

 

Then Catherine became Aronda a young girl who had lived in 1863 b,c Or was it the other way around? And here she was again, happier than I had ever seen her.

Rồi Catherine trở thành Aronda, một cô gái trẻ sống vào năm 1863 trước Công nguyên. Hay đó là một cách nào khác? Và nơi đây tôi chứng kiến cô lại vui vẻ hơn bao giờ hết.

 

I again worried that Catherine might be afraid to continue. However, she eagerly prepared for the hypnosis and went under quickly. “I am throwing wreaths of flowers on the water. This is a ceremony. My hair is blond and braided. I’m wearing a brown dress with gold, and sandals. Somebody has died, somebody in the Royal House …the mother. I am a servant with the Royal House, and I help with the food. We put the bodies in brine for thirty days. They dry out and the parts are taken out. I can smell it, smell the bodies.”

Tôi lại lo là Catherine sẽ tiếp tục sợ hãi. Tuy nhiên, cô nhiệt tình sửa soạn cho buổi thôi miên và đắm chìm ngay. “Tôi đang ném những vòng hoa xuống nước. Đó là một nghi lễ. Tóc tôi vàng hoe và được tết lại. Tôi mặc một bộ nâu viền vàng, và mang dép. Một người nào đó chết, một người nào đó trong Hoàng gia … người mẹ. Tôi là một người hầu trong Hoàng Gia, và tôi giúp làm đồ ăn. Chúng tôi để thi hài vào trong nước muối ba mươi ngày. Người ta làm khô và các bộ phận được lấy đi. Tôi có thể ngửi thấy, mùi của các xác.”

 

She had spontaneously gone back to Aronda’s lifetime, but to a different part of it, to when her duty was to prepare bodies after their death. “In a separate building,” Catherine continued, “I can see the bodies. We are wrapping bodies. The soul passes on. You take your belongings with you, to be prepared for the next and greater life.” She was expressing what seemed like an Egyptian concept of death and the afterlife, different from any of our beliefs. In that religion, you could take it with you.

Tự nhiên cô quay về kiếp sống Aronda, nhưng ở một giai đoạn khác, vào lúc nhiệm vụ của Aronda là phải sửa soạn các xác sau khi họ chết. Catherine tiếp tục, “trong một tòa nhà riêng biệt, tôi có thể nhìn thấy những xác chết. Chúng tôi bọc những xác ấy lại. Linh hồn đi qua. Hãy mang theo đồ đạc và hãy sửa soạn cho kiếp tới, một kiếp vĩ đại hơn”. Cô đang bầy tỏ cái dường như giống quan niệm về cái chết và kiếp mới sau khi chết của một người Ai Cập, khác hẳn bất cứ niềm tin nào của chúng ta. Theo tôn giáo đó, bạn có thể mang theo đồ đạc.

 

She left the lifetime and rested. She paused for several minutes before entering an apparently ancient time. I see ice, hanging in a cave . . . rocks. . ..” She vaguely described a dark and miserable place, and she was now visibly uncomfortable. Later she described what she had seen of herself. “I was ugly, dirty, and smelly.” She left for another.

Cô rời bỏ kiếp sống này và yên nghỉ. Cô ngưng lại vài phút trước khi đi vào thời cổ đại. “Tôi thấy đá đóng băng, lủng lẳng trong hầm … vách đá … “Cô mơ hồ miêu tả một chỗ tối tăm khổ sở, và trông cô lúc này rất khó chịu. Sau này cô đã miêu tả cô nhìn thấy chính cô. “Tôi rất xấu xí, bẩn thỉu và hôi hám”. Cô rời bỏ đi vào một thời gian khác.

 

 “There are some buildings and a cart with stone wheels. My hair is brown with a cloth on it. The cart has straw in it. I’m happy. My father is there. . .. He’s hugging me. It’s . . . it’s Edward [the pediatrician who insisted she see me]. He’s my father. We live in a valley with trees. There are olive and fig trees in the yard. People write on papers. There are funny marks on them, like letters. People are writing all day, making a library. It is 1536 B.C. The land is barren. My father’s name is Perseus.”

“Có một số tòa nhà và một cái xe ngựa có bánh xe bằng đá.Tóc tôi nâu hoe với một cái nơ trên tóc. Xe ngựa chất đầy rơm. Tôi rất sung sướng. Cha tôi ở đấy … Ông ôm hôn tôi. Đó là … đó là Edward (bác sĩ khoa nhi nài nỉ cô đến gặp tôi). Ông ấy là cha tôi. Chúng tôi sống trong một thung lũng có nhiều cây. Có những cây ô liu và cây vả trong sân. Người ta viết trên giấy. Có những dấu vết buồn cười trên giấy, giống như chữ. Người ta viết cả ngày, làm thành một thư viện. Đó là năm 1536 trước Công nguyên. Đất đai cằn cỗi. Cha tôi tên là Perseus.”

 

The year did not fit exactly, but I was sure she was in the same lifetime that she had reported during the previous week’s session. I took her ahead in time, staying in that lifetime. “My father knows you [meaning me]. You and he talk about crops, law, and government. He says you are very smart and I should listen to you.” I took her further ahead in time. “He’s {father} lying in a

dark room. He’s old and sick. It’s cold. … I feel so empty.” She went ahead to her death. “Now I’m old and feeble. My daughter is there, near my bed. My husband is already dead. My daughter’s husband is there, and their children. There are many people around.”

Năm không đúng lắm,nhưng tôi chắc chắn cô ở trong cùng một kiếp mà cô đã thuật lại trong buổi thôi miên tuần trước. Tôi bảo cô giữ kiếp này nhưng đi ngược thời gian.”Cha tôi biết ông (nghĩa là tôi). Ông và cha tôi nói về mùa màng, luật lệ, và chính phủ. Cha tôi nói ông rất thông minh và tôi phải nghe lời ông”. Tôi đưa cô đi xa hơn nữa. “Ông nằm trong một phòng tối. Ông già và ốm đau. Trời lạnh … Tôi cảm thấy trống rỗng “. Cô tiếp tục đến lúc chết. “Bây giờ tôi già và yếu đuối. Con gái tôi ở đấy, gần giường tôi. Chồng tôi đã chết. Chồng con gái tôi cũng ở đấy cùng với các con của chúng. Có nhiều người chung quanh”.

 

Her death was peaceful this time. She was floating. Floating? This reminded me of Dr. Raymond Moody’s studies of victims of near-death experiences. His subjects also remembered floating, then being pulled back to their bodies. I had read his book several years previously and now made a mental note to reread it. I wondered if Catherine could remember anything more after her death, but she could only say “I’m just floating.” I awakened her and ended that session.

Lần này cái chết của cô an bình. Cô đang trôi nổi. Trôi nổi? Việc này khiến tôi nhớ đến những sựnghiên cứu của Bác Sĩ Raymond Moody về kinh nghiệm của những người sắp chết. Những đối tượng của ông cũng nhớ đến sự trôi nổi, rồi lại nhập vào xác thân. Trước đây mấy năm tôi đã có đọc cuốn sách của ông và bây giờ tôi quyết tâm sẽ đọc lại nữa. Tôi không biết Catherine có thể nhớ gì nữa sau khi chết, nhưng cô chỉ nói “tôi đang bay lơ lửng” Tôi đánh thức cô và chấm dứt buổi thôi miên.

 

With a new insatiable hunger for any scientific papers that had been published on reincarnation, I hunted through the medical libraries. I studied the works of lan Stevenson, M.D., a well-respected Professor of Psychiatry at the University of Virginia, who has published extensively in the psychiatric literature. Dr. Stevenson has collected over two thousand examples of children with reincarnation-type memories and experiences. Many exhibited xenoglossy, the ability to speak a foreign language to which they were never exposed. His case reports are carefully complete, well-researched, and truly re-markable.

Với niềm mong muốn khát khao tìm bất cứ tài liệu khoa học nào đã được xuất bản về luân hồi, tôi bèn đi lùng tại những thư viện y khoa. Tôi đã nghiên cứu công trình của Bác Sĩ Ian Stevenson, một vị giáo sư được kính nể về tâm thần học của Đại Học Virginia, người đã xuất bản nhiều tài liệu tâm thần học. Bác Sĩ Ian Stevenson đã thu thập hơn hai ngàn trường hợp về trẻ em có những ký ức và kinh nghiệm kiểu luân hồi. Nhiều trường hợp biểu lộ ngoại ngữ, khả năng nói tiếng ngoại quốc mà chúng chưa bao giờ bộc lộ. Những báo cáo về các trường hợp của ông được hoàn tất rất cẩn thận, được nghiên cứu kỹ, và rất xuất sắc.

 

I read an excellent scientific overview by Edgar Mitchell. With great interest I examined the ESP data from Duke University, and the writings of Professor C. J, Ducasse of Brown University, and I intently analyzed the studies of Dr. Martin Ebon, Dr. Helen Wambach, Dr. Gertrude Schmeidler, Dr. Frederick Lenz, and Dr. Edith Fiore, The more I read, the more I wanted to read. I began to realize that even though I had considered myself well educated about every dimension of the mind, my education had been very limited. There are libraries filled with this research and literature, and few people know about it. Much of this research was conducted, verified, and replicated by reputable clinicians and scientists. Could they all be mistaken or deceived? The evidence seemed to be overwhelmingly supportive, yet I still doubted. Overwhelming or not, I found it difficult to believe.

Tôi đã đọc bài cái nhìn khái quát khoa học tuyệt vời của Edhar Mitchell. Với sự quan tâm lớn lao, tôi khảo sát dữ kiện ESP (tri giác ngoại cảm) của Trường Đại Học Duke, và những bài viết của Giáo sư C.J. Ducasse tại Đại Học Brown, và tôi đã phân tích kỹ lưỡng những công trình nghiên cứu của Bác Sĩ Martin Ebon, Bác sĩ Helen Wambach, Bác sĩ Gertrude Schmeidler, Bác sĩ Frederick Lenz, và Bác sĩ Edith Fiore. Càng đọc tôi càng muốn đọc thêm. Tôi bắt đầu hiểu rằng dù cho tôi đã coi mình là có học vấn về mọi phương diện của tâm trí, vốn học hành của tôi còn rất hạn chế. Nhiều thư viện tràn đầy những nghiên cứu tìm hiểu và tài liệu nhưng ít người biết đến nó. Nhiều các cuộc nghiên cứu đã được tiến hành, kiểm tra và tái tạo bởi những nhà trị liệu và khoa học tiếng tăm. Liệu tất cả những người đó có bị lầm lẫn hay bị lừa gạt không? Bằng chứng dường như hỗ trợ quá mạnh, tuy tôi vẫn nghi ngờ. Quá mạnh hay không, tôi thấy rất khó tin.

 

Both Catherine and I, in our own ways, had already been profoundly affected by the experience. Catherine was improving emotionally, and I was expanding the horizons of my mind. Catherine had been tormented by her fears for many years and was finally feeling some relief. Whether through actual memories or vivid fantasies, I had found a way to help her, and I was not going to stop now.

Catherine và tôi cả hai, bằng những con đường riêng, đã bị ảnh hưởng sâu xa bởi thí nghiệm này. Catherine đang khá hơn về cảm tính, và tôi đang mở rộng tầm nhận thức của tôi. Catherine đã bị hành hạ nhiều năm bởi sợ hãi, và cuối cùng đang cảm thấy đỡ. Dù đó là những ký ức có thật hay những tưởng tượng sống động, tôi đã tìm ra được cách để giúp cô, và bây giờ tôi sẽ không ngưng lại.

 

For a brief moment I thought about all of this as Catherine drifted into a trance at the beginning of the next session. Prior to the hypnotic induction, she had related a dream about a game being played on old stone steps, a game played with a checkerboard with holes in it. The dream had seemed especially vivid to her. I now told her to go back beyond the normal limits of space and time, to go back and see if her dream had roots in a previous reincarnation.

Trong một lúc ngắn ngủi, tôi nghĩ về tất cả điều đó khi Catherine trôi dạt vào hôn mê lúc bắt đầu buổi thôi miên tiếp theo. Trước khi đi vào thôi miên, cô có nói đến một giấc mơ về một trò chơi trên những bậc thềm đá cổ, một trò chơi với một bàn cờ có lỗ. Giấc mơ dường như thật sống động nơi cô. Bấy giờ tôi bảo cô hãy quay trở về vượt qua giới hạn không gian và thời gian và xem có phải giấc mơ có nguồn gốc ở một hiện thân trước không.

 

“I see steps leading up to a tower . . . overlooking the mountains, but also the sea. I am a boy. . .. My hail is blond . . . strange hair. My clothes ate short, brown and white, made from animal skins. Some men are on top of the tower, looking out . . . guards. They are dirty. They play a game, like checkers, but not. The board is round, not square. They play with sharp, dagger like pieces, which fit into the holes. The pieces have animal heads on them. Kirustan [phonetic spelling] Territory? From the Netherlands, around 1473.”

“Tôi nhìn thấy những bậc thềm dẫn đến một tháp canh … trông ra núi và biển. Tôi là một đứa con trai … Tóc tôi vàng hoe …, mái tóc lạ. Quần áo của tôi ngắn ngủn, màu nâu và trắng, làm bằng da thú. Một số người đứng trên đỉnh tháp, đang nhìn ra … những lính gác. Họ rất bẩn thỉu. Họ chơi trò chơi giống như chơi cờ, nhưng không phải. Bàn cờ tròn không phải vuông. Họ chơi bằng những con cờ giống như dao găm sắc cắm vào lỗ. Những con cờ này có đầu thú. Địa hạt Kirustan (đánh vần theo âm) Địa hạt? Từ Hòa Lan, vào khoảng 1473.

 

I asked her the name of the place in which she lived, and whether she could see or hear a year. “I’m in a seaport now; the land goes down to the sea. There is a fortress . . . and water. I see a hut . . . my mother cooking in a clay pot. My name is Johan.”

Tôi hỏi tên chỗ cô ở và liệu cô có thể đến xem hay nghe một năm. ” Bây giờ tôi đang ở một hải cảng; đất trải dài tới biển. Có một pháo đài … và nước. Tôi thấy một cài chòi … mẹ tôi đang nấu ăn trong cái nồi bằng đất sét. Tên tôi là Johan”.

 

She was progressed to her death. At this point in our sessions, I was still looking for the single overwhelming traumatic event that could either cause or explain her current-life symptoms. Even if these remarkably explicit visualizations were fantasies, and I was unsure of this, what she believed or thought could still underlie her symptoms. After all, I had seen people traumatized by their dreams. Some could not remember whether a childhood trauma actually happened or occurred in a dream, yet the memory of that trauma still haunted their adult lives.

Cô tiến tới cái chết của cô. Vào lúc này trong buổi thôi miên, tôi vẫn tìm kiếm một biến cố chấn thương mạnh có thể gây ra hay giải thích những triệu chứng trong đời sống hiện tại của cô. Dù cho những tưởng tượng rõ ràng là khác thường này, và tôi không chắc chắn về điều đó, cái mà cô tin hay nghĩ ngợi vẫn có thể nằm dưới những triệu chứng. Tóm lại, tôi đã thấy nhiều người bị chấn thương bởi những giấc mơ của họ. Một số người không thể nhớ được liệu một chấn thương hồi thơ ấu thực sự đã xẩy ra hay xuất hiện trong giấc mơ, tuy ký ức về chấn thương này vẫn ám ảnh đời sống họ lúc trưởng thành.

 

What I did not yet fully appreciate was that the steady day-ln and day-out pounding of undermining influences, such as a parent’s scathing criticisms, could cause even more psychological trauma than a single traumatic event. These damaging influences, because they blend into the everyday background of our lives, are even more difficult to remember and exorcise. A constantly criticized child can lose as much confidence and self-esteem as one who remembers being humiliated on one particular, horrifying day. A child whose family is impoverished and has very little food available on a day-to-day basis might eventually suffer from the same psychological problems as a child who experienced one major episode of accidental near-starvation. I would soon realize that the day-in and day-out pounding of negative forces had to be recognized and resolved with as much attention as that paid or the single, over whelming traumatic event.

Điều mà tôi chưa hoàn toàn cảm nhận là những ảnh hưởng gây tác hại hoành hành ngày lại ngày, cũng như những lời công kích cay nghiệt của cha mẹ, có thể gây chấn thương tâm lý nhiều hơn chỉ một biến cố chấn thương. Những ảnh hưởng tai hại này là do chúng pha trộn vào bối cảnh sống hàng ngày của chúng ta, rất khó để nhớ lại và xua đuổi chúng. Một đứa trẻ luôn luôn b ịchỉ trích có thể mất nhiều lòng tin tưởng và lòng tự trọng như một người nhớ lại bị làm nhục vào một ngày đặc biệt hãi hùng nào đó. Một đứa trẻ ở trong một gia đình nghèo khổ chỉ có ít thực phẩm cho mỗi ngày có thể bị cùng những vấn đề tâm lý như một đứa trẻ đã trải qua nhiều ngày gần bị chết đói. Tôi hiểu ngay rằng những ảnh hưởng tiêu cực hoành hành ngày lại ngày phải được nhìn nhận và phải được giải quyết bằng nhiều lưu ý như đối với một biến cố chấn thương nặng.

 

Catherine began to speak. “There are boats, like canoes, brightly painted. Providence area. We have weapons, spears, slings, bows and arrows, but bigger. There are big, strange oars on the boat . . . everyone has to row. We maybe lost; it is dark. There are no lights, I am afraid. There are other boats with us [apparently a raiding party]. I’m afraid of the animals. We sleep on dirty, foul-smelling animal skins. We are scouting. My shoes look funny, like sacks . . . ties at the ankles . . . from animal skins. [Long pause] My face is hot from the fire. My people are killing the others, but I am not. I do not want to kill. My knife is in my hand.

Catherine bắt đầu nói.”Có những chiếc thuyền, giống như ca nô, sơn sáng chói. Vùng Providence. Chúng tôi có súng ống, giáo, ná bắn đá, cung và tên, nhưng lớn hơn. Có những mái chèo lớn lạ lùng trên những con thuyền … ai cũng phải chèo thuyền. Chúng tôi có thể bị lạc, trời tối. Không có đèn đuốc. Tôi sợ hãi. Có những con thuyền khác cũng như chúng tôi (hình như của phe tấn công). Tôi sợ những con thú. Chúng tôi ngủ trên bộ da thú bẩn thỉu. Chúng tôi đang đi thám sát. Giầy của tôi trông thật ngộ nghĩnh, giống như bao tải … buộc dây ở mắt cá … bằng da thú. (ngừng lâu) Mặt tôi nóng lên vì lửa. Người của tôi đang giết những người kia, nhưng tôi không. Tôi không muốn giết. Con dao ở trong tay tôi”

 

“Suddenly she began to gurgle and gasp for breath. She reported that an enemy fighter had grabbed her from behind, around the neck, and had slit her throat with his knife. She saw the face of her killer before she died. It was Stuart. He looked different then, but she knew it was he. Johan had died at the age of twenty-one.

Đột nhiên cô bắt đầu nói ríu rít và thở hỗn hển. Cô thuật lại là một kẻ địch đã chộp được cô từ phía sau cô, nắm lấy cổ và cắt họng cô bằng con dao của nó. Cô nhìn thấy mặt kẻ thù trước khi chết. Đó là Stuart (Bác sĩ, người tình nhân Do Thái của cô). Trông nó khác nhưng cô biết là chính nó. Johan chết vào lúc 21 tuổi.

 

She next found herself floating above her body, observing the scene below. She drifted up to the clouds, feeling perplexed and confused. Soon she felt herself being pulled into a “tiny, warm” space. She was about to be born.

Tiếp đến cô thấy cô bay lơ lửng trên xác chết của mình, quan sát quang cảnh phía dưới. Cô dạt lên tận mây, cảm thấy lúng túng và bối rối. Một lúc sau cô cảm thấy bị kéo vào một không gian “nhỏ bé ấm áp”. Cô sắp sửa được sinh ra.

 

“Somebody is holding me,” she whispered slowly and dreamily,” someone who helped with the birth. She’s wearing a green dress with a white apron. She has a white hat, folded back at the corners. The room has funny windows . . . many sections. The building is stone. My mother has long, dark hair. She wants to hold me. There’s a funny . . . rough nightshirt on my mother. It hurts to rub against it. It feels good to be in the sun and to be warm again. . . . It’s . . . it’s the same mother I have now!”

“Người nào đó đang ẵm tôi”, cô thì thầm nhè nhẹ và mơ màng, “người nào đó giúp tôi ra đời. Bà đang mặc bộ đồ xanh với một cái tạp dề trắng. Bà đội một cái mũ trắng, gấp lại ở các góc. Căn phòng có những cửa sổ ngộ nghĩnh, nhiều ngăn. Tòa nhà bằng đá. Mẹ tôi có mớ tóc đen dài. Bà muốn ẵm tôi. Bà mặc một cái áo ngủ vải thô thật nực cười… Áo đó sẽ bị hư khi chà sát lên nó. Thật dễ chịu ở dưới ánh mặt trời và lại được ấm áp … Đúng là … đúng là cùng người mẹ của tôi hiện nay!”

 

   “…Karma…”

   “Yea the ex-wife got the Porsch in the divorce. But somehow the universe tends to even things out in the end.”

 

During the previous session, I had instructed her to closely observe the significant people in these lifetimes to see whether she could identify them as significant people in her present lifetime as Catherine. According to most writers, groups of souls tend to reincarnate together again and again, working out their “karma” (debt sowed to others and to the self, lessons to be learned) over the span of many lifetimes.

Trong những buổi thôi miên trước, tôi bảo cô quan sát kỹ những người đáng chú ý trong những kiếp sống ấy để xem liệu cô có thể nhận ra họ là những người đáng chú ý trong kiếp sống hiện nay của Catherine không. Theo đa số các tác giả, các nhóm linh hồn hay cùng nhau luân hồn lại nhiều lần, giải quyết “nghiệp” của họ (thiếu nợ người khác và của chính mình, những bài học phải học) trên khoảng thời gian của nhiều kiếp sống.

 

In my attempt to understand this strange, spectacular drama that was unfolding, unbeknown to the rest of the world, in my quiet, dimly lighted office, I wanted to verify this information. I felt the need to apply the scientific method, which I had rigorously used over the past fifteen years in my research, to evaluate this most unusual material emerging from Catherine’s lips.

Trong hoài bão muốn hiểu biết màn kịch ngoạn mục lạ lùng đang được trải ra chưa được biết đến đối với phần còn lại của thế giới, trong phòng mạch lặng lẽ với ánh sáng lờ mờ, tôi muốn kiểm tra lại kiến thức này. Tôi cảm thấy cần phải áp dụng phương pháp khoa học mà tôi đã sử dụng mạnh mẽ trên 15 năm qua trong việc nghiên cứu của tôi để đánh giá thông tin hết sức bất thường này nảy sinh từ miệng Catherine.

 

Between sessions Catherine herself was becoming increasingly more psychic. She had intuitions about people and events that proved to be true. During the hypnosis, she had begun to anticipate my questions before I had a chance to ask them. Many of her dreams had a precognitive, or foretelling, bent.

Trong những buổi thôi miên chính Catherine càng ngày càng trở nên tâm linh. Cô có trực giác về con người và các sự kiện đã chứng minh là đúng. Trong lúc thôi miên, cô bắt đầu đoán trước được những câu hỏi của tôi trước khi tôi có dịp hỏi những câu hỏi. Nhiều giấc mơ của cô có xu hướng biết trước hay tiên đoán.

 

On one occasion, when her parents came to visit her, her father expressed tremendous doubt about what was happening. To prove to him that it was true, she took him to the race track. There, right before his eyes, she proceeded to pick the winner of every race. He was stunned. Once she knew that she had proved her point, she took all of the money that she had won and gave it to the first poor street person she met on her way out of the track. She intuitively felt that the new spiritual powers she had gained should not be used for financial reward. For her, they had a much higher meaning. She told me that this experience was a little frightening to her, but she was so pleased with the progress she had made that she was eager to continue with the regressions. I was both shocked and fascinated by her psychic abilities, especially the episode at the racetrack. This was tangible proof. She had the winning ticket to every race. This was no coincidence. Something very odd was happening over these past several weeks, and I struggled to keep my perspective. I could not deny her psychic abilities. And if these abilities were real and could produce tangible proofs, could her recitations of past-life events also be true?

Có lần, khi cha mẹ cô đến thăm cô, cha của cô đã bầy tỏ sự nghi ngờ khủng khiếp về việc đang xẩy ra. Để chứng minh cho ông đó là sự thực, cô đưa ông đến trường đua ngựa. Ở đó ngay trước mắt ông, cô đã đoán trúng ngựa nào thắng trong mỗi cuộc đua. Ông hết sức ngỡ ngàng. Một lần cô biết chắc là đã chứng minh được điểm đó, cô đã đem tất cả tiền thắng trong cuộc đua cho người vô gia cư khổ sở đầu tiên cô gặp trên đường lúc ra khỏi trường đua. Cô trực giác cảm thấy quyền năng mới mà cô vừa đạt được không nên dùng để kiếm tiền. Đối với cô, những quyền năng này có ý nghĩa cao cả hơn nhiều. Cô nói với tôi kinh nghiệm này làm cho cô hơi sợ hãi, nhưng cô rất vui với tiến bộ cô đạt được và cô mong muốn tiếp tục lùi về dĩ vãng. Tôi vừa bị choáng váng vừa bị cuốn hút trước khả năng tâm linh của cô, nhất là tình tiết ở trường đua ngựa. Đó là chứng cớ hiển nhiên. Cô đã có vé trúng ở mỗi cuộc đua. Không có sự trùng hợp ngẫu nhiên nào. Điều gì đó kỳ quặc đã xẩy ra trong mấy tuần lễ vừa qua, và tôi đã vật lộn để bảo vệ cách nhìn của tôi. Tôi không thể phủ nhận khả năng tâm linh của cô. Và nếu những khả năng này là thật và có thể đưa ra những chứng cớ hiển nhiên, thì việc đọc lại những sự kiện ở tiền kiếp của cô cũng có thể là thật không?

 

Now she returned to the lifetime in which she had just been born. This incarnation seemed to be more recent, but she could not identify a year. Her name was Elizabeth, “I’m older now, with a brother and two sisters. I see the dinner table. . .. My father is there . . . he’s Edward [the pediatrician, back for an encore performance as her father], My mother and father are fighting again. The food is potatoes and beans. He’s mad because the food is cold. They fight a lot. He’s always drinking. … He hits my mother. [Catherine’s voice was frightened, and she was trembling visibly.] He pushes the kids. He’s not like he was before, not the same person. I don’t like him. I wish he would go away.” She was speaking as a child would speak.

Bây giờ cô trở lại về kiếp sống mà cô mới vừa sinh ra. Hóa thân này dường như gần đây hơn nhưng cô không nhận ra được năm nào. Tên cô là Elizabeth. “Bây giờ tôi lớn hơn, có một anh và hai chị gái. Tôi nhìn thấy cái bàn ăn … Cha tôi ở đấy … Ông là Edward (bác sĩ nhi khoa một lần nữa trở lại làm cha). Mẹ tôi và cha tôi lại đánh nhau. Thức ăn là khoai tây và đậu. Cha tôi giận dữ vì đồ ăn nguội. Họ đánh nhau nhiều. Ông lúc nào cũng uống rượu… Ông đánh mẹ tôi (Giọng của Catherine sợ hãi và cô run lên rõ ràng). Ông đẩy những đứa con. Ông không giống ông như trước đây, không phải cùng một người. Tôi không thích ông. Tôi muốn ông đi đi” Cô nói như một đứa trẻ nói.

 

The Indianapolis 500, also formally known as the Indianapolis 500-Mile Race, or simply the Indy 500, is an annual automobile race held Indiana, United States’.

 

My questioning of her during these sessions was certainly very different from what I used in conventional psychotherapy. I acted more as a guide with Catherine, trying to review an entire lifetime in an hour or two, searching for traumatic events and harmful patterns that might explain her current-day symptoms. Conventional therapy is conducted at a much more detailed and leisurely pace. Every word chosen by the patient is analyzed for nuances and hidden meanings. Every facial gesture, every bodily movement, every inflection of the voice is considered and evaluated. Every emotional reaction is carefully scrutinized. Behavior patterns are painstakingly pieced together. With Catherine, however, years could whir by in minutes. Catherine’s sessions were like driving the Indy 500 at full throttle . . . and trying to pick out faces in the crowd.

Câu hỏi của tôi trong buổi này khác hẳn câu mà tôi thường dùng trong việc trị liệu tâm lý thông thường. Tôi hành động như một hướng dẫn viên cho Catherine, cố gắng xem lại toàn bộ một kiếp sống trong một hay hai tiếng, tìm kiếm những sự kiện gây chấn thương và những loại có hại có thể giải thích những triệu chứng hiện tại của cô. Trị liệu thông thường được tiến hành với nhịp độ thong thả và chi tiết hơn. Mỗi lời nói do bệnh nhân lựa chọn đều được phân tích về sắc thái và nghĩa bóng. Mỗi nét mặt, mỗi cử chỉ, mỗi biến đổi giọng nói đều được xem xét và đánh giá. Mỗi phản ứng của cảm xúc đều được xem xét tỷ mỷ. Các kiểu ứng xử được cẩn thận lắp ráp vào với nhau. Tuy nhiên với Catherine, những năm tháng qua đi vù vù trong một phút. Các buổi thôi miên của Catherine giống như lái xe trong cuộc đua xe hơi Indy 500 dậm đạp hết ga … cố gắng nhận ra các bộ mặt trong đám đông khán giả.

 

I returned my attention to Catherine and asked her to advance intime. “I’m married now. Our house has one big room. My husband has blond hair. I don’t know him. [That is, he has not appeared in Catherine’s present lifetime.] We have no children yet. . .. He’s very nice to me. We love each other, and we’re happy.” Apparently, she had successfully escaped from the oppression in her parental home. I asked if she could identify the area in which she lived.

Tôi chuyển sự chú ý tới Catherine và yêu cầu cô hãy tiến xa hơn nữa.”Bây giờ tôi có chồng. Nhà tôi có một phòng lớn. Chồng tôi có tóc vàng hoe. Tôi không biết anh (tức là chồng không xuất hiện trong hiện kiếp của Catherine). Chúng tôi chưa có con. Anh rất tử tế với tôi. Chúng tôi yêu nhau và rất hạnh phúc”. Hiển nhiên cô đã thoát khỏi sự áp chế ở nhà cha mẹ. Tôi hỏi liệu cô có thể nhận ra khu vực mà cô đã ở không.

 

“Brennington?’r Catherine whispered hesitatingly. “I see books with funny old covers. The big one closes with a strap. It’s the Bible. There are big fancy letters . . . Gaelic language.”, Here she said some words I could not identify. Whether they were Gaelic or not, I have no idea, “We live inland, not near the sea. County . . . Brenning-ton? I see a farm with pigs and lambs. This is our farm.” She had gone ahead in time. “We have two boys. . .. The older is getting married. I can see the church steeple … a very old stone building.” Suddenly her head hurt, and Catherine was in pain, clutching her left temple area. She reported that she had fallen on the stone steps, but she recovered. She died of old age, in her bed at home with her family around.

“Brennington” Catherine ngập ngừng thì thầm. ” Tôi nhìn thấy những cuốn sách có những bìa cũ ngộ nghĩnh. Cuốn to nhất đóng lại bằng một cái dây. Đó là cuốn Kinh Thánh. Có những chữ to lạ lùng … tiếng Gaelic” (tiếng Xen-tơ). Cô nói ở đây một số tiếng cô không nhận ra được. Không biết có phải là tiếng Gaelic hay không, tôi không biết.”Chúng tôi sống trong vùng nội địa không gần biển. Xứ đó …. Brennington? Tôi thấy một nông trại có lợn và cừu. Đó là trại của chúng tôi”. Cuối cùng cô tiếp tục. “Chúng tôi có hai con trai … Đứa lớn đã lấy vợ. Tôi có thể nhìn thấy gác chuông nhà thờ…. một tòa nhà bằng đá rất cổ.”. Đột nhiên cô đau đầu, và Catherine trong cơn đau đớn, ôm lấy thái dương bên trái. Cô kể là bị ngã trên bậc thềm đá, nhưng đã bình phục. Cô chết lúc tuổi già trên giường ở nhà với gia đình xung quanh.

 

She again floated out of her body after her death, but this time she was not perplexed or confused. “I am aware of a bright light. It’s wonderful; you get energy from this light.” She was resting, after death, in between lifetimes. Minutes passed in silence. Suddenly she spoke, but not in the slow whisper she had always used previously. Her voice was now husky and loud, without hesitation. “Our task is to learn, to become God-like through knowledge. We know so little. You are here to be my teacher, I have so much to learn. By knowledge we approach God, and then we can rest. Then we come back to teach and help others.”

Cô lại lơ lửng ra khỏi xác thân sau khi chết, nhưng lần nay cô không hoang mang hay bối rối. “Tôi nhận thấy một ánh sáng chói lọi. Thật là tuyệt vời; bạn có năng lượng từ ánh sáng ấy.” Cô đang nghỉ ngơi, sau khi chết giữa những kiếp sống. Ít phút trôi qua lặng lẽ. Đột nhiên cô nói, không phải nói thì thầm chậm rãi như thường lệ trước đó, bây giờ cô nói to và khàn, không chút ngập ngừng. “Nhiệm vụ của chúng tôi là học để trở thành như thần thánh qua kiến thức. Chúng tôi biết quá ít. Ông ở đây làm thầy tôi. Tôi phải học nhiều. Bằng kiến thức chúng ta gần Thượng Đế, và rồi chúng ta có thể nghỉ ngơi. Rồi chúng ta trở lại dạy và giúp đỡ người khác”.

 

I was speechless. Here was a lesson from after her death, from thein-between state. What was the source of this material? This did not sound at all like Catherine. She had never spoken like this, using these words, this phraseology. Even the tone of her voice was totally different.

At that moment I did not realize that although Catherine had uttered the words, she had not originated the thoughts. She was relaying what was being said to her. She later identified the Masters, highly evolved souls not presently in body, as the source. They could speak to me through her. Not only could Catherine be regressed to past lifetimes, but now she could channel knowledge from the beyond. Beautiful knowledge. I struggled to retain my objectivity.

Tôi không nói được lời nào. Đây là một bài học từ sau cái chết của cô, từ trạng thái nửa nọ nửa kia. Nguồn gốc của tài liệu này là gì? Nó không giống của Catherine chút nào. Cô không bao giờ nói như thế, dùng những lời như thế, câu cú như thế. Cả đến giọng nói của cô cũng hoàn toàn khác hẳn.

Vào lúc đó tôi không hiểu được rằng mặc dù Catherine thốt ra những lời như vậy, cô đã không tạo ra những suy nghĩ ấy. Cô đang truyền điều đang được nói với cô. Sau này cô nhận diện ra là các bậc Thầy, những linh hồn tiến hóa cao không hiện diện nơi thân thể, là nguồn gốc. Họcó thểnói với tôi qua cô. Không chỉCatherine có thểlùi vềcác tiền kiếp, mà bây giờcô còn có thểtruyền kiến thức từthếgiới bên kia. Kiến thức đẹp đẽ. Tôi phấn đấu đểgiữtính cách khách quan

 

Padmasambhava, also called Guru Rimpoche, Tibetan Slob-dpon (“Teacher”), or Padma ‘Byung-gnas (“Lotus Born”), (flourished 8th century),

 

A new dimension had been introduced. Catherine had never read the studies of Dr. Elisabeth Kubler-Ross or Dr. Raymond Moody, who have both written about near-death experiences. She had never heard of the Tibetan Book of the Dead. Yet she was relating similar experiences to those described in these writings. This was a proof of sorts. If only there were more facts, more tangible details I could verify. My skepticism fluctuated, yet remained. Maybe she had read about near-death research in a magazine article or had seen an interview on a television show. Although she denied any conscious remembrance of such an article or show, perhaps she retained a sub-conscious memory. But she went beyond these previous writings and transmitted a message back from this in-between state. If only I had more facts.

Một phương chiều mới đã được mở ra. Catherine chưa bao giờ đọc những công trình nghiên cứu của Bác Sĩ Elisabeth Kubler-Ross hay Bác Sĩ Raymond Moody, cả hai bác sĩ này đã viết về những kinh nghiệm lúc cận tử. Cô cũng chưa bao giờ nghe nói về cuốn sách của người Tây Tạng về Người Chết. Thế mà cô đang kể ra những kinh nghiệm tương tự với những kinh nghiệm được miêu tả trong những bài viết này. Âu cũng là là một bằng chứng. Giá mà có nhiều sự việc hơn, nhiều chi tiết rõ ràng hơn, tôi có thể xác minh. Sự hoài nghi của tôi thay đổi bất thường tuy vẫn còn. Có thể là cô đã đọc chuyện nghiên cứu về cận tử trong một tạp chí hay đã xem một cuộc phỏng vấn trên chương trình truyền hình. Mặc dù cô phủ nhận bất cứ một ký ức nào về bài báo hay chương trình truyền hình như thế, nhưng có lẽ cô đã giữ ký ức trong tiềm thức. Nhưng cô đã vượt qua những bài viết trước đây và truyền tin tức từ trạng thái nửa nọ nửa kia. Giá mà tôi có nhiều sự việc có thật hơn.

 

After she awakened, Catherine remembered the details of her past lives, as always. However, she could not remember anything that happened after her death as Elizabeth. In the future she would never remember any details of the in-between states. She could only remember the lifetimes. “By knowledge we approach God.” We were on our way.

Sau khi tỉnh lại, Catherine nhớ những chi tiết về tiền kiếp, vẫn như thường lệ. Tuy nhiên cô không thể nhớ những gì xẩy ra sau khi chết lúc là Elizabeth. Trong tương lai cô sẽ không bao giờ nhớ được chi tiết nào trong trạng thái nửa nọ nửa kia. Cô chỉ nhớ được những kiếp sống. “Bằng kiến thức, chúng ta gần Thượng Đế”. Chúng ta đang ở trên con đường của chúng ta.

 

Sources:

Tài liệu tham khảo:

  1. https://tienvnguyen.net/a2066/tien-kiep-va-luan-hoi-co-that-khong-many-lives-many-masters-
  2. https://tienvnguyen.net/images/file/Wful-wTe1ggQAFce/manylivesmanymasters.pdf
  3. https://tienvnguyen.net/images/file/sLziGUbf1ggQALdp/tienkiepvaluanhoicothatkhong.pdf
  4. Photo2: https://en.wikipedia.org/wiki/Second_Council_of_Constantinople
  5. Photo 3: https://www.allposters.com/-sp/Soul-Leaving-Body-Posters_i6812439_.htm
  6. Photo 4: https://en.wikipedia.org/wiki/Aronda
  7. Photo 5: https://www.sciencephoto.com/keyword/extrasensory-perception
  8. Photo 6: http://evdhamma.org/index.php/dharma/dharma-lessons/item/322-77-luat-nghiep-bao-phan-2-song-ngu
  9. Photo 7: https://en.wikipedia.org/wiki/Indianapolis_500#/media/File:Indianapolis-motor-speedway-1848561.jpg
  10. Photo 8: https://www.britannica.com/biography/Padmasambhava