Chapter 2 – Tiền Kiếp Và Luân Hồi Có Thật Không? – Many Lives, Many Masters – Song ngữ

English: Dr. Brian L. Weiss.

Việt ngữ: Thích Tâm Quang.

Compile: Middle Way Group.

Chapter 2– Tiền Kiếp Và Luân Hồi Có Thật Không? – Many Lives, Many Masters

 

Eighteen months of intensive psychotherapy passed, with Catherine coming to see me once or twice a week. She was a good patient, verbal, capable of insights, and extremely eager to get well.

Mười tám tháng tâm lý liệu pháp trôi qua, Catherine đến gặp tôi một hay hai lần một tuần. Cô là một bệnh nhân tốt, bộc lộ, có khả năng hiểu thấu, và muốn hồi phục nhanh chóng.

 

During that time, we explored her feelings, thoughts, and dreams. Her recognition of recurrent behavior patterns provided her with insight and understanding. She remembered many more significant details from her past, such as her merchant seaman father’s absences from the home and his occasional violent outbursts after drinking too much. She understood much more about her turbulent relationship with Stuart, and she expressed anger more appropriately. I felt that she should have been much improved by now. Patients almost always improve when they remember unpleasant influences from their past, when they learn to recognize and correct maladaptive behavior patterns, and when they develop insight and view their problems from a larger, more detached perspective. But Catherine had not improved.

Trong thời gian này, chúng tôi khảo sát tỉ mỉ cảm nghĩ, tư tưởng và những giấc mộng của cô. Công nhận kiểu ứng xử hay tái diễn giúp cô có sự sáng suốt và hiểu biết. Cô đã nhớ được nhiều chi tiết có ý nghĩa về quá khứ của cô, chẳng hạn như cha cô buôn bán đường biển thường vắng nhà và thỉnh thoảng rất hung tợn sau khi uống nhiều rượu. Cô hiểu nhiều hơn về sự quan hệ của cô với Stuart, và cô bộc lộ cơn giận một cách thích đáng. Tôi cảm thấy lẽ ra cô khá hơn nhiều. Bệnh nhân hầu như thường khá hơn khi họ nhớ lại được những ảnh hưởng không mấy vui trong quá khứ, khi họ biết công nhận và sửa chữa kiểu ứng xử vụng dại và khi họ phát triển sự sáng suốt và xem những trở ngại của họ bằng cách nhìn rộng rãi hơn và khách quan hơn. Nhưng Catherine không mấy khá lên.

 

Anxiety and panic attacks still tortured her. The vivid recurrent nightmares continued, and she was still terrified of the dark, of water, and of being closed in. Her sleep was still fragmented and unrefreshing. She was experiencing heart palpitations. She continued to refuse any medicines, afraid of choking on the pills. I felt as if I had reached a wall, and that no matter what I did, that wall would remain so high that neither of us would be able to climb over it. But, with my sense of frustration came an added sense of determination. Somehow, I was going to help Catherine.

Lo âu và kinh sợ vẫn hành hạ cô. Cơn ác mộng mạnh tái diễn tiếp tục và cô vẫn sợ bóng tối, sợ nước, và sợ bị vây. Giấc ngủ của cô vẫn chập chờn và không khoan khoái. Tim cô hồi hộp. Cô tiếp tục từ chối bất cứ thuốc gì, sợ bị nghẹn khi uống các viên thuốc. Tôi cảm thấy như thể tôi tiến tới trước một bức tường, và dù tôi đã làm gì đi nữa, bức tường ấy vẫn quá cao và chẳng ai trong chúng tôi có thể vượt qua được bức tường ấy. Mặc dầu cảm nghĩ thất vọng, một cảm giác quyết tâm đến với tôi. Dù thế nào, tôi vẫn giúp Catherine.

 

And then a strange thing happened. Although she was intensely afraid of flying and had to fortify herself with several drinks while she was on the plane, Catherine accompanied Stuart to a medical conference in Chicago in the spring of 1982. While there, she pressured him into visiting the Egyptian exhibit at the art museum, where they joined a guided tour.

Và rồi một sự việc lạ lùng xẩy ra. Mặc dù cô rất sợ hãi phải đi máy bay và phải trấn an mình bằng vài ly rượu trong khi đi máy bay, nhưng Catherine đã cùng Stuart đi dự một cuộc hội thảo y khoa vào mùa xuân năm 1982. Tại đây, cô thúc Stuartđi xem cuộc triển lãm Ai Cập tại viện bảo tàng nghệ thuật ở Chicago, nơi đây cô và Stuart đi theo một đoàn du khách.

 

Catherine had always had an interest in ancient Egyptian artifacts and reproductions of relics from that period. She was hardly a scholar and had never studied that time in history, but somehow the pieces seemed familiar to her.

Catherine luôn luôn quan tâm đến những đồ tạo tác cổ của Ai Cập và những phiên bản di vật ở thời kỳ đó. Cô không phải là một học giả và cũng chưa bao giờ nghiên cứu lịch sử thời kỳ ấy, nhưng không biết làm sao những vật ấy dường như rất quen thuộc với cô.

 

When the guide began to describe some of the artifacts in the exhibit, she found herself correcting him . . . and she was right! The guide was surprised; Catherine was stunned. How did she know these things? Why did she feel so strongly that she was right, so sure of herself that she corrected the guide in public? Perhaps the memories were forgotten from her childhood.

Khi người hướng dẫn miêu tả một số đồ tạo tác trong cuộc triển lãm, cô thấy người này nói sai, và cô đã sửa lại cho đúng, và cô nói đúng! Người hướng dẫn ngạc nhiên và Catherine cũng ngỡ ngàng. Làm sao cô đã biết những thứ như vậy? Tại sao cô cảm thấy mình rất đúng, chắc chắn và đến nỗi sửa sai cho người hướng dẫn trước công chúng? Có lẽ những ký ức bị lãng quên từ khi còn thơ ấu được nhớ lại.

 

At her next appointment, she told me what had happened. Months earlier I had suggested hypnosis to Catherine, but she was afraid and she resisted. Because of her experience at the Egyptian exhibit, she now reluctantly agreed.

Vào lần khám bệnh kế tiếp, cô kể cho tôi nghe điều đã xẩy ra. Mấy tháng trước đây, tôi có đề nghị dùng thôi miên, nhưng Catherine sợ hãi và từ chối. Vì việc xảy ra tại cuộc triển lãm Ai Cập, bây giờ cô miễn cưỡng đồng ý.

 

Hypnosis is an excellent tool to help a patient remember long-forgotten incidents. There is nothing mysterious about it. It is just a state of focused concentration. Under the instruction of a trained hypnotist, the patient’s body relaxes, causing the memory to sharpen. I had hypnotized hundreds of patients and had found it helpful in reducing anxiety, eliminating phobias, changing bad habits, and aiding in the recall of repressed material. On occasion, I had been successful in regressing patients back to their early childhoods, even to when they were two or three years old, thus eliciting the memories of long-forgotten traumas that were disrupting their lives. I felt confident that hypnosis would help Catherine.

Thôi miên là một công cụ tuyệt hảo để giúp bệnh nhân nhớ lại những việc xẩy ra đã bị quên lãng từ lâu. Không có gì là huyền bí cả về việc này. Đó chỉ là một trạng thái thái tập trung. Theo chỉ dẫn của một nhà thôi miên thành thạo, cơ thể bệnh nhân thư giãn, làm cho ký ức nhậy bén. Tôi đã thôi miên cả trăm bệnh nhân và thấy rằng thôi miên giúp giảm bớt lo âu, loại bỏ được chứng sợ hãi, thay đổi được thói quen xấu, và giúp nhớ được dữ kiện bị kìm nén. Có dịp tôi đã thành công trong việc giúp bệnh nhân hồi nhớ lại thời kỳ thơ ấu, thậm chí lúc họ mới hai hay ba tuổi, do đó gợi lại được những ký ức về những chấn thương bị lãng quên từ lâu đã ngăn trở cuộc sống của họ. Tôi tin thôi miên có thể giúp Catherine

 

I instructed Catherine to lie on the couch with her eyes slightly closed and her head resting on a small pillow. At first, we focused on her breathing. With each exhalation she released stored-up tension and anxiety; with each inhalation she relaxed even more. After several minutes of this, I told her to visualize her muscles progressively relaxing, beginning with her facial muscles and jaw, then her neck and shoulders, her arms, back and stomach muscles, and finally her legs. She felt her entire body sinking deeper and deeper into the couch.

Tôi bảo Catherine nằm trên giường khám bệnh, mắt nhắm hờ và đầu nằm trên một gối nhỏ. Đầu tiên chúng tôi tập trung vào hơi thở của cô. Với mỗi lần thở ra cô giải thoát sự căng thẳng và lo âu chất chứa và mỗi lần hít thở cô thư giãn nhiều hơn nữa. Sau ít phút như vậy tôi bảo cô hãy tưởng tượng là cơ bắp từ từ thư giãn, bắt đầu từ cơ bắp mặt và hàm, rồi đến cổ và vai, cánh tay, lưng, cơ bắp bụng, và sau cùng là chân. Cô cảm thấy toàn ngày càng chìm sâu vào giường khám bệnh.

 

Then I instructed her to visualize a bright white light at the top of her head, inside her body. Later on, as I had the light spread slowly down her body, it completely relaxed every muscle, every nerve, every organ-all of her body-bringing her into a deeper and deeper state of relaxation and peace. She felt sleepier and sleepier, more and more peaceful and calm. Eventually, at my instruction, the light filled her body and surrounded her as well.

Rồi tôi bảo cô hãy mường tượng một ánh sáng trắng chói lọi ở đỉnh đầu cô, trong thân thể cô. Sau đó khi tôi đem ánh sáng lan tỏa xuống cơ thễ cô, nó hoàn toàn làm giãn mọi cơ bắp, mọi dây thần kinh, mọi cơ quan – tất cả thân thể-đưa cô vào một trạng thái thư giãn sâu xa và an bình. Cô cảm thấy ngày càng buồn ngủ hơn, an ổn và bình tĩnh càng nhiều hơn. Cuối cùng theo chỉ dẫn của tôi, ánh sáng tràn ngập cơ thể cô cũng như bao quanh cô.

 

I counted backward slowly from ten to one. With each number, she entered a deeper level of relaxation. Her trance state deepened. She was able to concentrate on my voice and exclude all background noises. By the count of one, she was already in a moderately deep state of hypnosis. The entire process had taken about twenty minutes.

Tôi đếm ngược chậm rãi từ số mười đến số một. Với mỗi số, cô tiến sâu vào mức độ thư giãn. Cô chìm vào trạng thái hôn mê. Cô có thể tập trung vào giọng nói của tôi và loại trừ tất cả những tiếng ồn ào chung quanh. Khi đếm tới số một, cô đã ở tình trạng bị thôi miên trung bình. Toàn bộ tiến trình mất khoảng 20 phút.

 

After a while I began to regress her, asking her to recall memories of progressively earlier ages. She was able to talk and to answer my questions while maintaining a deep level of hypnosis. She remembered a traumatic experience at the dentist that occurred when she was six years old. She vividly remembered the terrifying experience at age five when she was pushed from a diving board into a pool. She had gagged and choked then, swallowing some water, and while talking about it she began to gag in my office. I suggested to her that the experience was over, that she was out of the water. The gagging stopped, and she resumed her normal breathing. She was still in a deep trance.

Sau một lúc tôi bắt đầu hướng cô về quá khứ, yêu cầu cô nhớ lại những ký ức về thời thơ ấu. Cô có thể nói chuyện và trả lời câu hỏi của tôi trong khi duy trì ở mức độ thôi miên sâu. Cô nhớ lại sự việc khó chịu tại phòng nha sĩ khi cô sáu tuổi. Cô nhớ lại rõ ràng sự việc hãi hùng lúc 5 tuổi khị cô bị đẩy từ cầu nhẩy xuống hồ bơi. Cô bị tắc và nghẹn, bị uống nước, và trong khi nói chuyện về việc này, cô bắt đầu như nghẹn tại phòng khám của tôi. Tôi nói với cô việc này đã qua rồi, và cô đã ra khỏi nước. Ngừng tắc nghẹn và cô thở lại bình thường. Cô vẫn ởtrong trạng thái hôn mê sâu.

 

At age three, the worst event of all had occurred. She remembered awakening in her dark bedroom and being aware that her father was in her room. He reeked of alcohol then, and she could smell it now. He touched her and rubbed her, even “down there.” She was terrified and began to cry, so he covered her mouth with his rough hand. She could not breathe. In my office, on my couch, twenty-five years later, Catherine began to sob. I felt that we had the information now, the key to the lock. I was sure that her symptoms would improve quickly and dramatically. I softly suggested to her that the experience was over, that she was no longer in her bedroom but was resting quietly, still in a trance. The sobbing ended. I took her forward in time to her current age. I awakened her after I had instructed her, by posthypnotic suggestion, to remember all that she had told me. We spent the remainder of the session discussing her suddenly vivid memory of the trauma with her father. I tried to help her accept and integrate her “new” knowledge. She now understood her relationship with her father, his reactions to her, his aloofness, and her fear of him. She was still shaking when she left the office, but I knew the understanding she had gained was worth the momentary discomfort.

Vào năm ba tuổi, một sự cố xấu nhất đã xẩy ra. Cô nhớ cô tỉnh giấc trong phòng ngủ tối tăm và thấy cha cô ở trong phòng. Ông ta nồng nặc mùi rượu và lúc này cô vẫn còn ngửi thấy mùi đó. Ông ta sờ mó cô và xoa đến cả “phía dưới” của cô. Cô quá kinh hãi và bắt đầu khóc, ông ta bịt miệng cô bằng bàn tay thô bạo của ông. Cô không thở được. Trong phòng mạch của tôi, hai mươi lăm năm sau, trên giường khám bệnh Catherine bắt đầu thổn thức. Tôi cảm thấy bây giờ chúng tôi đã có được tin tức, chìa khóa để mở cửa. Tôi chắc chắn những triệu chứng sẽ được cải tiến nhanh và mạnh mẽ. Tôi nhẹ nhàng bảo cô, chuyện đó đã qua rồi, và cô không còn ở trong phòng ngủ nữa, mà đang thanh thản và vẫn đang hôn mê. Cô hết thổn thức. Cuối cùng tôi đem cô về tuổi hiện thời. Tôi đánh thức cô sau khi đã bảo cô, bằng hậu thôi miên, hãy nhớ tất cả những gì cô đã nói với tôi. Chúng tôi đã dùng thời gian còn lại của buổi điều trị bàn luận về ký ức sống động đột xuất về chấn thương với cha cô. Tôi cố gắng giúp cô chấp nhận và bổ sung vào kiến thức “mới” của mình. Bây giờ cô hiểu mối quan hệ với cha cô, phản ứng của ông ta với cô, sự cách biệt của người cha, và sự sợ hãi người cha của cô. Cô vẫn còn bàng hoàng khi rời phòng mạch, nhưng tôi biết sự hiểu biết mà cô đạt được rất đáng giá với một chốc lát khó chịu.

 

In the drama of uncovering her painful and deeply repressed memories, I had entirely forgotten to look for the possible childhood connection to her knowledge of the Egyptian artifacts. But at least she understood more about her past. She had remembered several terrifying events, and I expected a significant improvement in her symptoms.

Trong loạt sự việc khi phát hiện cô có ký ức bị kiềm chế sâu và đau đớn, tôi đã quên hẳn không xem xét đến việc cô có thể có liên quan tới kiến thức về đồ tạo tác Ai Cập. Nhưng ít nhất cô đã hiểu thêm về quá khứ của mình. Cô đã nhớ được vài biến cố kinh hoàng, và tôi trông đợi một sự cải thiện đáng kể về những triệu chứng của cô.

 

Despite this new understanding, the next week she reported that her symptoms remained intact, as severe as ever. I was surprised. I could not understand what was wrong. Could something have happened earlier than age three? We had uncovered more than sufficient reasons for her fear of choking, of the water, of the dark, and of being trapped, and yet the piercing fears and symptoms, the uncontrolled anxiety, were all still devastating her waking moments. Her nightmares were as terrifying as before. I decided to regress her further.

Bất chấp sự hiểu biết này, tuần lễ sau đó cô thông báo là, những triệu chứng vẫn như cũ và có phần nặng hơn. Tôi rất ngạc nhiên. Tôi không thể hiểu nổi có điều gì không đúng. Có thể có điều gì xẩy ra trước lúc cô ba tuổi? Chúng tôi đã phát hiện quá đủ những lý do về sự sợ hãi bị nghẹn, sợ nước, sợ bóng tối, và sợ mắc bẫy, vậy mà sự sợ hãi nhức nhối và các triêu chứng, sự lo âu bất trị soát vẫn hoành hành lúc cô thức. Những cơn ác mộng vẫn khủng khiếp như trước. Tôi quyết định đưa cô về quá khứ xa hơn nữa.

 

While hypnotized, Catherine spoke in a slow and deliberate whisper. Because of this, I was able to write down her words verbatim and have quoted Catherine directly. (The ellipses represent pauses in her speech, not deletions of words nor editing on my part. However, some of the material that is repetitious is not included here.)

Trong khi thôi miên, Catherine đã thì thầm nói chậm và thong thả. Do đó tôi đã có thể viết xuống từng lời cô và đã trích dẫn trực tiếp những lời cô nói. (Hiện tượng thiếu mạch lạc rõ ràng những lúc nghỉ trong câu nói, không phải là xóa bỏ hay là sự biên tập của tôi. Tuy nhiên một số dữ kiện lặp đi lặp lại không được bao gồm ở đây).

 

Slowly, I took Catherine back to the age of two, but she recalled no significant memories. I instructed her “firmly and clearly: “Go back to the time from which your symptoms arise.” I was totally unprepared for what came next.

Từ từ, tôi đưa Catherine quay về lúc hai tuổi, nhưng cô không nhớ được những ký ức có ý nghĩa. Tôi chỉ dẫn minh bạch và dứt khoát:” Hãy quay về lúc các triệu chứng phát sinh”. Tôi hoàn toàn không chuẩn bị gì cho việc sắp xẩy ra.

 

“I see white steps leading up to a building, a big white building with pillars, open in front. There are no doorways. I’m wearing a long dress … a sack made of rough material. My hair is braided, long blond hair.”

“Tôi nhìn thấy những bậc thềm mầu trắng dẫn đến một tòa nhà, một tòa nhà trắng lớn với những cột nhà to, phía trước trống trải. Không có ô cửa nào. Tôi mặc y phục dài…. cái áo choàng làm bằng vật liệu thô sơ. Tóc tôi bện lại, mớ tóc màu vàng hoe dài”

 

I was confused. I wasn’t sure what was happening. I asked her what the year was, what her name was. “Aronda … I am eighteen. I see a market place in front of the building. There are baskets. . .. You carry the baskets on your shoulders. We live in a valley. . .. There is no water. The year is 1863 b.c. The area is barren, hot, and sandy. There is a well, no rivers. Water comes into the valley from the mountains.”

Tôi bối rối. Tôi không biết chắc điều đang xẩy ra. Tôi hỏi cô, đó là năm nào, và tên là gì. “Aronda…, tôi mười tám tuổi. Tôi thấy một cái chợ trước tòa nhà. Có những cái thúng…..họ mang những cái thúng trên vai. Chúng tôi sống ở một thung lũng …. Không có nước. Năm 1863 trước Công Nguyên. Vùng này trơ trụi, nóng và có cát. Có một cái giếng, không có sông. Nước từ núi chảy vào thung lũng”.

 

After she related more topographical details, I told her to go several years ahead in time and to tell me what she saw.

Sau khi kể lại nhiều chi tiết về địa hình, tôi bảo cô hãy đi tới một vài năm xa hơn và nói cho tôi biết cô thấy gì.

 

“There are trees and a stone road. I see a fire with cooking. My hair is blond. I’m wearing a long, coarse brown dress and sandals. I am twenty-five. I have a girl child whose name is Cleatra. . .. She’s Rachel. [Rachel is presently her niece; they have always had an extremely close relationship.] It’s very hot.”

“Có cây cối và một con đường đá. Tôi thấy bếp lửa để nấu nướng. Tóc tôi màu vàng hoe. Tôi đang mặc y phục dài mầu nâu sồng và đi dép. Tôi 25 tuổi. Tôi có một đứa con gái, tên nó là Cleatra… Cleatra là Rachel (Rachel hiện là cháu của cô, cô và Rachel quan hệ với nhau rất mật thiết). Trời rất nóng.”

 

I was startled. My stomach knotted, and the room felt cold. Her visualizations and recall seemed so definite. She was not at all tentative. Names, dates, clothes, trees-all seen vividly! What was going on here? How could the child she had then be her niece now? I was even more confused. I had examined thousands of psychiatric patients, many under hypnosis, and I had never come across fantasies like this before-not even in dreams. I instructed her to go forward to the time of her death. I wasn’t sure how to interview someone in the middle of such an explicit fantasy (or memory?), but I was on the lookout for traumatic events that might underlie current fears or symptoms. The events around the time of death could be particularly traumatic. Apparently, a flood or tidal wave was devastating the village.

Tôi giật mình. Dạ dày tôi thắt lại, và căn phòng lạnh lẽo. Những tưởng tượng và hồi tưởng của cô dường như qúa rõ ràng. Cô không một chút do dự gì. Tên, ngày tháng, quần áo, cây cối, tất cả được thấy một cách sống động! Cái gì đã diễn ra nơi đây? Làm sao một đứa con của cô có bây giờ lại là cháu cô? Tôi bối rối hơn. Tôi đã khám nghiệm cả ngàn người bệnh tâm thần, rất nhiều người bằng thôi miên, nhưng chưa bao giờ gặp trường hợp như thế này -ngay cả trong mơ. Tôi chỉ dẫn cho cô đi xa hơn lúc cô chết. Tôi không biết chắc cách phỏng vấn người nào đó đang ở trong một hiện tượng kỳ quặc rõ ràng (hay ký ức), nhưng tôi đang tìm kiếm những biến cố gây chấn thương có thể nằm dưới những sợ hãi và triệu chứng hiên nay. Những biến cố lúc gần chết có thể đặc biệt gây chấn thương. Hình như, lũ lụt hay sóng thủy triều đang tàn phá làng này.

 

“There are big waves knocking down trees. There’s no place to run. It’s cold; the water is cold. I have to save my baby, but I cannot . . .just have to hold her tight. I drown; the water chokes me. I can’t breathe, can’t swallow . . . salty water. My baby is torn out of my arms.”

“Có những cơn sóng lớn quật đổ cây cối. Không có chỗ nào mà chạy đến. Trời lạnh; nước lạnh. Tôi phải cứu con tôi, nhưng tôi không thể….. chỉ ôm con thật chặt. Tôi chết đuối. Nước làm tôi bị nghẹt. Tôi không thể thở được, không thể nuốt được… nước mặn. Con tôi bị giằng ra khỏi tay tôi”.

 

Catherine was gasping and having difficulty breathing. Suddenly her body relaxed completely, and her breathing became deep and even. “I see clouds. . .. My baby is with me. And others from my village. I see my brother.”

Catherine hổn hển và khó thở. Đột nhiên cơ thể của cô thư giãn hoàn toàn, và hơi thở của cô trở nên sâu và điều hòa. “Tôi nhìn thấy những đám mây … Con tôi nay với tôi. Và những người khác trong làng tôi. Tôi thấy anh tôi”

 

She was resting; this lifetime had ended. She was still in a deep trance. I was stunned! Previous lifetimes? Reincarnation? My clinical mind told me that she was not fantasizing this material, that she was not making this up. Her thoughts, her expressions, the attention to particular details, all were different from her conscious state. The whole gamut of possible psychiatric diagnoses flashed through my mind, but her psychiatric state and her character structure did not explain these revelations. Schizophrenia? No, she had never had any evidence of a cognitive or thinking disorder. She had never experienced any auditory hallucinations of hearing voices, visual hallucinations or visions while awake, or any other type of psychotic episodes. She was not delusional, nor was she out of touch with reality. She did not have multiple or split personalities. There was only one Catherine, and her conscious mind was totally aware of this. She had no sociopathic or antisocial tendencies. She was not an actress. She did not use drugs, nor did she ingest hallucinogenic substances. Her use of alcohol was minimal. She had no neurological or psychological illnesses that could explain this vivid, immediate experience while hypnotized.

Cô đang nghỉ ngơi; cuộc sống này đã chấm dứt. Cô vẫn ở trong hôn mê sâu. Tôi ngỡ ngàng! Những kiếp trước? Luân hồi? Năng lực trí lực trị liệu bảo tôi rằng cô không bịa đặt ra chuyện này, cô không dựng chuyện. Tư tưởng, cách trình bày của cô, sự chú ý đến những chi tiết đặc biệt, tất cả đều khác với trạng thái có ý thức của cô. Toàn bộ cung bậc khả năng chẩn bệnh tâm thần lóe lên trong tâm trí tôi, nhưng trạng thái tâm thần và cấu trúc cá tính của cô không giải thích nổi những khám phá này. Loạn tinh thần? Không, cô chưa bao giờ có chứng cớ nào bị rối loạn suy nghĩ hay nhận thức. Cô chưa bao giờ mắc chứng ảo giác về việc nghe tiếng, về thị giác hay ảo ảnh khi thức, hay bất cứ loại nào khác trong các giai đoạn thần kinh. Cô không ảo tưởng cũng chẳng xa rời thực tế. Cô không có nhiều cá tính hay chứng tâm thần phân lập. Chỉ có một Catherine, và tâm thức của cô hoàn toàn biết việc này. Cô không mỵ dân và không có khuynh hướng xa lánh hay chống xã hội. Cô cũng không phải là một nữ tài tử. Cô không dùng ma túy và cũng không ăn các chất gây ảo giác. Cô rất ít uống rượu. Cô không có bệnh thần kinh hay tâm lý có thể giải thích kinh nghiệm trực tiếp rõ ràng này trong khi thôi miên.

 

These were memories of some sort, but from where? My gut reaction was that I had stumbled upon something I knew very little about-reincarnation and past-life memories. It couldn’t be, I told myself; my scientifically trained mind resisted it. Yet here it was, happening right before my eyes. I couldn’t explain it, but I couldn’t deny the reality of it either.

Có những ký ức nào đó nhưng từ đâu? Phản ứng chính của tôi là tôi đã vấp phải cái gì đó mà tôi biết rất ít – luân hồi và những ký ức tiền kiếp. Tôi nhủ thầm không phải là tâm trí được đào tạo một cách khoa học của tôi chống lại việc đó. Nhưng ở đây nó đang xẩy ra ngay trước mắt tôi. Tôi không thể giải thích nổi, mà cũng không thể phủ nhận sự thật của nó.

 

“Go on,” I said, a little unnerved but fascinated by what was happening. “Do you remember anything else?” She remembered fragments of two other lifetimes.

Tôi nói, “tiếp tục”, một chút nản lòng nhưng bị quyến rũ về cái đang xẩy ra. ” Cô còn nhớ gì nữa không?” Cô nhớ lại một vài phần của hai kiếp khác.

 

“I have on a dress with black lace, and there is black lace on my head. I have dark hair with gray in it. It’s [A.D.] 1756. I am Spanish. My name is Louisa and I’m fifty-six. I’m dancing; others are dancing, too. [Long pause] I’m sick; I have a fever, cold sweats. . .. Lots of people are sick; people are dying. . .. The doctors don’t know it was from the water.” I took her ahead in time. “I recover, but my head still hurts; my eyes and head still hurt from the fever, from the water. . .. Many dies.”

“Tôi mặc y phục dài có dải áo đen, có một dải đen trên đầu tôi. Mái tóc đen của tôi đã ngả muối tiêu. Đó là năm 1756 sau công nguyên. Tôi là người Tây Ban Nha. Tên tôi là Louisa và tôi 56 tuổi. Tôi đang khiêu vũ, và những người khác cũng đang khiêu vũ. (ngừng lại lâu) Tôi bị ốm. tôi bị sốt, cảm lạnh. Rất nhiều người bị bệnh; nhiều người đang bị chết… Các bác sĩ không biết là do nước.”Tôi bảo cô nói về thời gian sau đó. “Tôi bình phục, nhưng đầu tôi vẫn đau; mắt tôi và đầu tôi vẫn đau do sốt, do nước… Nhiều người chết.

 

Later she told me that she was a prostitute in that lifetime, but she had not relayed that information because she was embarrassed by it. Apparently, while hypnotized, Catherine could censor some of the memories she transmitted back to me.

Sau này cô nói với tôi cô là gái mãi dâm trong kiếp đó nhưng cô không tiếp tục tin tức này vì cô bị bối rối bởi tin ấy. Hiển nhiên, trong khi bị thôi miên, cô đã có thể kiểm duyệt những ký ức truyền cho tôi.

 

Since Catherine had recognized her niece in an ancient lifetime, I impulsively asked her if I was present in any of her lifetimes. I was curious about my role, if any, in her remembrances. She responded quickly, in contrast to the previous very slow and deliberate recall.

Vì Catherine công nhận cháu gái của cô trong một tiền kiếp, tôi bốc đồng hỏi cô có bao giờ tôi hiện diện trong kiếp sống nào của cô không. Tôi tò mò về vai trò của tôi nếu có trong những ký ức của cô. Cô trả lời ngay, trái với sựchậm rãi và thong thả trước đây.

 

“You are my teacher, sitting on a ledge. You teach us from books. You are old with gray hair. You’re wearing a white dress [toga] with gold trim. . .. Your name is Diogenes. You teach us symbols, triangles. You are very wise, but I don’t understand. The year is 1568 B.C. (This was approximately twelve-hundred years Before the noted Greek Cynic philosopher Diogenes. The name was not an uncommon one.)

“Ông là thầy giáo của tôi, ngồi trên bục giảng. Ông dạy chúng tôi từ những cuốn sách. Ông già và tóc muối tiêu. Ông mặc áo dài có viền vàng…. Tên ông là Diogenes. Ông dạy chúng tôi ký hiệu, tam giác. Ông rất khôn ngoan, nhưng tôi không hiểu. Đó là năm 1568 trước Công nguyên. (Xấp xỉ một nghìn hai trăm năm trước nhà triết học khuyến nho nổi tiếng Diogenes. Tên này không phải là một cái tên khác thường)

 

The first session had ended. Even more amazing ones were yet to come be able to prove any of her assertions or visualizations. But I was also aware, although much more dimly, of a further and less emotional thought. Keep an open mind, the thought said; true science begins with observation. Her “memories” might not be fantasy or imagination. There might be something more than meets the eye-or any of the other senses. Keep an open mind. Get more data.

Buổi đầu tiên kết thúc. Những buổi lạ lùng hơn còn tiếp theo. Sau khi Catherine đi khỏi, và tiếp theo vài ngày sau đó, tôi cân nhắc những chi tiết về thôi miên lùi về dĩ vãng. Cân nhắc là điều tự nhiên với tôi. Có ngay cả đến trong việc điều trị “bình thường” ít chi tiết xuất hiện thoát khỏi sự phân tích tinh thần ám ảnh của tôi, và buổi điều trị này hầu như không “bình thường”. Hơn nữa, tôi rất hoài nghi về đời sống sau khi chết, luân hồi, xuất hồn, và những hiện tượng liên quan. Tóm lại, phần lo gic của tôi suy gẫm đây có thể là sự tưởng tượng của cô ta. Thực tế là tôi không thể chứng minh bất cứ những khẳng định hay sự mường tượng của cô ta. Nhưng tôi cũng nhận thức một tư tưởng ít nhiều xúc động hơn và sâu xa hơn tuy không mấy rõ ràng. Giữ tâm trí mở rộng, tư tưởng nói, khoa học thực sự bắt đầu bằng khảo sát. “Những ký ức” của cô có thể không phải là quái dị hay tưởng tượng. Có thể là một thứ gì đó nhiều hơn được trông thấy – hay bất cứ giác quan nào khác. Hãy giữ tâm mở rộng. Hãy tìm nhiều dữ kiện hơn.

 

I had another nagging thought. Would Catherine, prone to anxieties and fears to begin with, be too frightened to undergo hypnosis again? I decided not to call her. Let her digest the experience, too. I would wait until next week.

Tôi có một tư tưởng dai dẳng khác. Có nên để Catherine bắt đầu lo âu và sợ hãi, bị quá kinh hoàng lại trải qua thôi miên nữa không? Tôi quyết định không gọi cô. Hãy để cho cô hiểu thấu kinh nghiệm này đi đã. Tôi sẽ đợi cô đến tuần lễ tới.

 

Sources:

Tài liệu tham khảo:

  1. https://tienvnguyen.net/a2066/tien-kiep-va-luan-hoi-co-that-khong-many-lives-many-masters-
  2. https://tienvnguyen.net/images/file/Wful-wTe1ggQAFce/manylivesmanymasters.pdf
  3. https://tienvnguyen.net/images/file/sLziGUbf1ggQALdp/tienkiepvaluanhoicothatkhong.pdf
  4. Photo 2: https://www.shutterstock.com/search/open+minded