Chapter 19 – Chuyện Tình Qua Nhiều Kiếp Luân Hồi – Only Love Is Real, The Story Of Soulmates Reunited – Song ngữ

English: Dr. Brian L. Weiss – 1996.

Việt ngữ: Vương Thị Minh Tâm.

Compile: Lotus group.

 

Chapter 19 – Chuyện Tình Qua Nhiều Kiếp Luân Hồi – Only Love Is Real, The Story Of Soulmates Reunited

 

  William Ernest Henley, (1849 -1903), British poet, critic, and editor

   who introduced the early work of many of the great English writers of the 1890s.

 

Or ever the knightly years were gone

With the old world to the grave,

I was a King in Babylon

And you were a Christian Slave.

Nếu thời hiệp sĩ đã từng trôi qua

Với thế giới xa xưa đã chôn vùi.

Thì ta đã là vua tại Babylon

Còn nàng là tên nô lệ của Chúa.

 

The sale of female slaves in Babylon in the 18th century BC.

 

I saw, I took, I cast you by,

I bent and broke your pride . . .

Ta nhìn ngắm, giữ lấy rồi vứt bỏ nàng,

Ta bẻ gãy niềm kiêu hãnh của nàng ……

 

And a myriad suns have set and shone

Since then upon the grave

Decreed by the King in Babylon

To her that had been his Slave.

The pride I trampled is now my scathe,

For it tramples me again.

The old resentment lasts like death,

Và biến nàng thành nô lệ của ta.

Niềm kiêu hãnh mà ta giẫm đạp

Giờ đây là sự miệt thị đối với ta,

Vì nó lại giẫm đạp lên ta.

Nỗi hận cũ kéo dài vô tận

 

For you love, yet you refrain.

I break my heart on your hard unfaith,

And I break my heart in vain.

Vì nàng yêu, nàng cố nhịn

Tim ta vỡ tan

Khi lòng nàng không chung thủy sắt son

Rồi ta xé nát tim mình trong vô vọng.

 

William Ernest Henley

 

*   *   *

 

Elizabeth was frustrated and despondent. Her new relationship had lasted for only two dates. Bob was avoiding her. She had known him casually for more than a year, through work. He was successful and handsome and shared many of her interests. He told her that his long-term affair with a married woman had just ended. Bob had had several short-term relationships with other women, but there always seemed to be something lacking in these women. According to him, they would turn out to be superficial or unintelligent or not share his values, and he would end the relationships. His married lover would always accept him back. Her husband was rich, but their relationship lacked passion. She would not leave her husband and their affluent life. “You’re different from the others,”

Elizabeth đau buồn, chán nản. Mối quan hệ mới đây cũng chỉ kéo dài được hai lần hẹn hò. Bob đã tránh mặt cô. Cô tình cờ quen anh qua công việc hơn một năm nay. Anh ta là người đẹp trai, thành đạt, và chia sẻ nhiều điều thú vị với cô. Anh ta kể với cô rằng anh vừa chia tay với người đàn bà đã có chồng, sau một thời gian dài yêu đương vụng trộm. Bob có rất nhiều mối quan hệ ngắn ngủi với nhiều phụ nữ khác, nhưng họ luôn thiếu cái gì đó. Theo Bob thì họ luôn giả dối, kém thông minh, hoặc không hiểu được giá trị của anh. Vì vậy anh ta chấm dứt những mối quan hệ này. Người tình cũ vẫn còn chờ đợi anh ta quay lại. Chồng cô ta rất giàu, nhưng tình vợ chồng của họ thiếu sự đam mê. Cô ta không thể bỏ chồng và bỏ đi cuộc sống sung túc được.

 

Bob swore to Elizabeth. “We have so much more in common.” He told Elizabeth that she was more intelligent than any of the others, more beautiful, that he knew their relationship could last. Elizabeth convinced herself that Bob was right. “He was there all the time, and I never really noticed,” she thought. “Sometimes the answer is right in front of your eyes and you never see it.”

Bob thề với Elizabeth: “Em khác họ rất nhiều. Chúng ta có nhiều điểm tương đồng.” Anh nói rằng cô thông minh hơn bất cứ người nào khác, đẹp hơn, duyên dáng hơn, và quan hệ của họ sẽ lâu bền. Elizabeth tự tin rằng Bob nói đúng. Cô

nghĩ: “Anh ấy luôn ở đó, và tôi không bao giờ nhận ra. Đôi khi câu trả lời đúng đứng trước mặt bạn, mà bạn không bao giờ thấy.”

 

She forgot that the reason she never really noticed Bob and his blond good looks was that she never felt a chemistry with him. She was lonely and desperate for a man’s arms. She listened to her head and ignored her heart’s warning.

Cô quên rằng lý do mà cô chưa bao giờ nhận ra Bob và gương mặt đẹp trai của anh ta là vì cô chưa hề cảm thấy quá trình bí ẩn đối với anh ta. Cô đơn độc, và cần một đôi tay đàn ông. Cô lắng nghe lý trí mà bỏ quên lời cảnh báo từ trái tim.

 

Their first date was very promising. They went out for a casual dinner, a good movie, and intimate conversation while watching the wind-whipped waves

on the beach under the cool light of a nearly full moon. “I could fall in love with you,” he told her, teasing her with a promise that would never be fulfilled. Her head carefully heard every word, ignoring the lack of response from her heart. The second date seemed fine. She had a good time, and she sensed that he did, too. His affection seemed genuine, and he hinted at sex in the future. But he never called back.

Lần hẹn hò đầu tiên có nhiều triển vọng. Họ đi ăn tối, xem phim, và tâm tình trên bãi biển, nghe sóng vỗ từng cơn dưới ánh sáng dịu dàng của đêm trăng thanh, gió mát. Anh ta nói với cô: “Chắc hẳn là anh đã yêu em”.  Anh ta trêu chọc cô với lời hứa hão huyền. Cô lắng nghe chăm chú từng lời, lờ đi sự thiếu vắng tiếng nói của con tim. Lần hẹn thứ hai có vẻ cũng tốt. Cô có được một khoảng thời gian hạnh phúc, và cô cảm thấy anh ta cũng vậy. Cảm giác yêu mến của anh ta dường như rất tuyệt vời, anh ta còn nói bóng gió về tình dục sẽ để lần tới. Nhưng anh ta không bao giờ liên lạc nữa.

 

Finally, she called him. He said that he wanted to see her again but that he was very busy, and it was difficult to pick an exact time. He assured her he had not had a change of heart. He did want to see her; he just couldn’t tell her when. “Why do I always pick losers?” she asked me. “What’s wrong with me?” “You don’t pick losers,” I told her. “Here’s a handsome and successful man who told you he was interested and available. Don’t blame yourself.”

Cuối cùng thì cô gọi điện thoại cho anh ta. Anh ta nói rất muốn gặp lại cô, nhưng mà anh ta rất bận, và rất khó để xác định thời gian gặp gỡ. Anh ta bảo đảm với cô là trái tim anh không hề thay đổi. Anh ta “ao ước” được gặp cô, nhưng không thể hẹn trước được. Cô hỏi tôi: – Tại sao tôi luôn bị thất bại? Tôi có gì sai? – Cô không gặp thất bại. Đây là người đàn ông đẹp trai và thành đạt đã nói với cô rằng anh ta rất quan tâm và sẵn sàng. Không nên tự trách mình.

 

I didn’t say so, but inwardly I knew she was right. She was picking losers, in this case an emotional loser. It turned out he could not leave the safety of his married lover. He chose to remain dependent and “safe.” Elizabeth became the victim of his fear and his lack of courage. Better now than later, I thought. Elizabeth was strong; she would recover.

Tôi không nói như vậy, nhưng tự trong tâm, tôi biết cô đúng. Cô luôn gặp thất bại, trong trường hợp này là sự thất bại về cảm xúc. Hóa ra anh ta không thể rời bỏ sự an toàn của người tình đã có chồng. Anh ta lựa chọn sự lệ thuộc và “an toàn”. Elizabeth trở thành nạn nhân của nỗi sợ hãi và thiếu can đảm của anh ta. Tôi nghĩ “Muộn còn hơn không”. Elizabeth rất mạnh mẽ, cô sẽ hồi phục nhanh thôi.

 

Elizabeth asked if we still had time to attempt a regression. She could sense something important was near the surface, and she was anxious to find it, so we proceeded. After she emerged in an ancient past life, I was not sure we had made the right decision. She saw a land of broad, rolling plains and flat-topped hills. A land of yaklike animals and small agile horses, of large rounded tents and nomadic wanderers. It was a land of passion, and it was a land of violence.

Elizabeth hỏi liệu chúng tôi vẫn còn thời gian để thử một chuyến trở về không. Cô cảm thấy có điều gì đó quan trọng gần nổi lên, và cô muốn tìm ra nó, do đó chúng tôi tiến hành. Sau khi cô hiện lên trong một kiếp quá khứ xa xôi, tôi không chắc là chúng tôi đã quyết định đúng. Cô nhìn thấy một dải đất rộng lớn, cánh đồng nhấp nhô, những đỉnh đồi bằng phẳng. Vùng đất của những con thú hoang dã đã thuần hóa, những con ngựa nhỏ nhắn nhanh nhẹn, những túp lều tròn rộng lớn, những người du mục lang thang. Đó là vùng đất của đam mê và đầy bạo động.

 

Her husband was away with most of the other men, hunting or raiding. The enemy struck, flying in on waves of horses against the depleted defenders. Her husband’s parents were killed first, hacked down by broad, razor-sharp swords. Her baby was killed next, gutted by a spear. A shudder convulsed her spirit. She wanted to die, too, but such was not her destiny. Captured by the young warriors because of her beauty, she became the property of the strongest of the invading horde. A few other young women were also spared.

Chồng cô đã đi xa với hầu hết trai tráng, để săn bắn và bố ráp. Kẻ thù tấn công, gió ngựa tung mù trời tương phản với những con người bảo vệ yếu đuối. Cha mẹ chồng cô bị giết trước, chặt đứt đầu bằng một thanh đao dài, nhọn. Con của cô bị giết tiếp theo, moi ruột bằng cái giáo. Cơn rùng mình làm chấn động linh hồn cô. Cô cũng muốn chết, nhưng định mệnh không cho phép. Cô bị một chiến binh trẻ bắt sống, vì cô đẹp. Cô trở thành vật sở hữu của kẻ mạnh nhất trong cuộc chiến xâm lược. Vài phụ nữ trẻ cũng bị miễn tội theo cách đó.

 

“Let me die!” she pleaded to her captor, but he would not allow it. “You are mine now,” he said simply. “You will live in my tent, and you will be my wife.” Except for her husband, whom she would never see again, all her loved ones were dead. She had no choice. She attempted to escape several times, only to be quickly caught. Her suicide attempts were similarly thwarted. She hardened herself, and her depression turned into a constant smoldering anger, devouring her capacity to love. Her spirit withered, and she merely existed, a hardened heart trapped in a living body. No jail could be as confining or as cruel.

– Hãy để tôi chết! Cô năn nỉ kẻ bắt giữ nhưng hắn bỏ lơ. Hắn nói đơn giản: – Bây giờ nàng là của ta. Nàng sẽ sống trong lều của ta, sẽ trở thành vợ của ta. Ngoài chồng cô ra, người mà cô sẽ mãi mãi không bao giờ gặp lại, những người thân yêu của cô không còn nữa. Cô không có sự lựa chọn. Cô đã cố trốn nhiều lần, chỉ ngay sau đó thì bị bắt lại. Cô cố tự sát cũng không được. Cô phải cứng rắn. Sự thất vọng biến thành niềm hận thù âm ỉ khôn nguôi, hủy bỏ khả năng yêu thương. Linh hồn cô đã héo hắt, chỉ còn thân xác cô tồn tại mà thôi, trái tim cứng cỏi của cô bị kẹt trong một thân thể sống. Không có một nhà tù nào có thể giam cầm ác độc hơn.

 

“Let’s go back in time,” I suggested. “Let’s go back before your village was raided.” I counted back from three to one. “What do you see?” I asked. Her face was now serene and peaceful as she remembered the early years, growing up, laughing and playing with the man she would eventually marry. She loved this childhood friend dearly, and he returned this love to her. She was at peace. “Do you recognize this man you married? Look into his eyes.” “No, I don’t,” she finally answered. “Look at the others in your village. Do you recognize anyone?”

– Cô nên quay lại ngôi làng trước cuộc tấn công. Tôi đề nghị, và đưa cô quay về.

– Cô nhìn thấy gì không? Gương mặt cô giờ đây thanh thản, bình yên vì cô đang nhìn về những năm trước đó, lớn lên, cười giỡn, chơi đùa với người đàn ông mà cô sẽ lấy làm chồng. Cô yêu tha thiết người bạn tuổi thơ ấu này, và anh ta cũng rất yêu cô. Cô thật sự hạnh phúc. – Nhìn vào mắt anh ta, xem cô có nhận ra là ai trong kiếp hiện tại? – Không. Tôi không nhận ra. – Nhìn chung quanh ngôi làng. Cô có nhận ra người nào trong làng không?

 

She looked carefully at her relatives and friends in that lifetime. “Yes . . . yes, my mother is there!” Elizabeth gasped happily. “She is the mother of my husband. We are very close. When my own mother died, she took me in as a daughter. I recognize her!” “Do you recognize anyone else?” I inquired. “She lives in the largest tent, with the flags and white feathers,” she answered, ignoring my question. Her face darkened. “They killed her, too!” she lamented, jumping back to the massacre. “Who killed her? Where did they come from?” “From the east, from beyond the wall. . .. This is where they have taken me.”

Cô nhìn chăm chú những người bà con, những người bạn trong kiếp đó. – Có… Mẹ tôi ở đó! Cô rất hạnh phúc. – Bà là mẹ chồng tôi. Chúng tôi rất thân thiết. Khi mẹ tôi chết, bà chăm sóc tôi như con gái. Tôi nhận ra mẹ! – Cô còn nhận ra ai nữa không? – Bà sống trong một lều lớn, có cờ và lông chim trắng. Cô kể tiếp, lờ đi câu hỏi của tôi. Gương mặt cô tối sầm lại: – Chúng giết mẹ tôi rồi! Cô thương xót, nhảy trở lại cuộc thảm sát. – Ai đã giết bà? Chúng ở đâu đến vậy? – Từ hướng Đông, từ ngoài bức tường… Đây là nơi chúng bắt tôi.

 

“Do you know the name of their land?” She pondered this question. “No. It seems to be somewhere in Asia, in the northern part. Maybe the west of China. . .. We have oriental features.” “It’s okay,” I responded. “Let’s move ahead in time within that lifetime. What happens to you?” “I was finally allowed to kill myself, after I had grown older and was not so attractive anymore,” she answered, without much emotion. “I think they grew tired of me,” she added. She was floating now, having left her body.

– Cô có biết tên nước đó không? Cô suy nghĩ câu hỏi, rồi trả lời: – Không, hình như nơi nào đó thuộc Châu Á, một phần phía Bắc. Có lẽ phía Tây Trung Quốc… Chúng tôi có nét đặc trưng phương Đông. – Được rồi. Đi xa hơn giữa kiếp này, xem điều gì xảy ra cho cô? – Rồi tôi cũng được lệnh tự tử khi đã già và không còn hấp dẫn nữa. Cô trả lời không hề xúc động. – Tôi nghĩ chúng cũng chán tôi rồi. Giờ đây hồn cô đã lìa khỏi xác.

 

I asked her to review her life. “What do you see?

What were the lessons? What did you learn?”

Elizabeth was silent for a few moments. And then she answered, “I learned many things. I learned of anger and the foolishness of holding on to anger. I could have worked with the younger children, with the old ones, with the sick ones, in the enemy’s town. I could have taught them. . .. I could have loved them. . .. but I never allowed myself to love. I never allowed myself to let my anger dissipate. I never allowed myself to open my heart once again. And these children, at least, were innocent. They were souls entering into this world. They had nothing to do with the raid, with the deaths of my loved ones. And yet I blamed them, too. I carried the anger even to the new generations, and this is foolish. It could hurt them, but most of all it harmed me… I never permitted myself to love again.”

Tôi nhắc cô hãy ôn lại kiếp sống đó. – Cô đã nhìn thấy gì?

Đó là bài học gì? Cô đã học được điều gì? Elizabeth im lặng khá lâu. Rồi cô trả lời: – Tôi học được rất nhiều. Tôi học về sự giận dữ và ngu dại nắm giữ sự giận dữ. Hẳn là tôi đã làm việc với trẻ em, với người già, với người bệnh trong thị trấn của kẻ thù. Hẳn là tôi đã dạy dỗ họ… yêu thương họ… Nhưng không bao giờ tôi cho phép mình yêu thương. Không bao giờ cho phép sự giận dữ tan biến. Không bao giờ mở rộng tấm lòng nhân ái. Ít nhiều gì thì những đứa trẻ này cũng vô tội. Chúng là những linh hồn bước vào cõi này. Chúng không tham gia tấn công, không tham gia trong cái chết của người thân của tôi. Vậy mà tôi trách móc chúng. Tôi mang niềm hận thù trút lên đầu những thế hệ trẻ này. Thật là ngu xuẩn. Điều đó chẳng làm tổn thương chúng, nhưng hầu như chỉ làm tổn thương tôi… Tôi không bao giờ cho phép mình yêu thương nữa.

 

She paused. “And I had much love to give.” She paused again and then seemed to speak from an even higher source. “Love is like a fluid,” she began. “It fills up crevices. It fills empty spaces of its own accord. It is we, it is people who stop it by erecting false barriers. And when love cannot fill our hearts and our minds, when we are disconnected from our souls, which consist of love, then we all go crazy.” I considered her words. I knew that love was important, perhaps even the most important thing in the world. But it had never dawned on me that the absence of love could cause us to lose our minds.

Cô dừng lại. – Tôi có rất nhiều tình yêu để cho đi.Cô dừng lại lần nữa. Dường như bây giờ đang từ một cõi xa, cô bắt đầu: – Tình yêu như một chất lỏng lấp đầy các khe hở, lấp đầy các khoảng trống thích hợp với nó. Chính là chúng ta, là những con người từ bỏ nó bằng cách thiết lập những rào chắn giả tạo. Nếu tình yêu không thể lấp đầy trái tim và tâm trí chúng ta, nếu chúng ta không được nối kết từ những linh hồn mà trong đó được bao gồm cả tình yêu, thì chúng ta sẽ trở nên điên loạn. Tôi suy xét những lời nói của cô. Tôi biết tình yêu rất quan trọng, có lẽ quan trọng nhất trên trái đất này. Nhưng chưa bao giờ nó hiện lên trong đầu tôi là thiếu tình yêu thì chúng ta trở nên điên loạn.

 

I remembered the famous monkey experiments of the psychologist, Dr. Harry Harlow, in which young monkeys deprived of touching, of nurturing, of love became completely asocial, physically ill, or even died. They could not survive intact without it. Loving is not an option. It is a necessity.

Tôi nhớ đến cuộc thử nghiệm về loài khỉ nổi tiếng của nhà tâm lý học, tiến sĩ Harry Harlow, trong đó những con khỉ nhỏ bị tước đi sự nâng niu, chăm sóc, thương yêu đều bị bệnh nặng, có khi bị chết. Chúng không thể sống nguyên vẹn mà thiếu tình thương yêu. Lòng yêu thương không phải là một sự chọn lựa, mà chính là một sự cần thiết.

 

   Harry Harlow, Monkey Love Experiments. His most famous experiment

   involved giving young rhesus monkeys a choice between two different “mothers.”

   One was made of soft terrycloth but provided no food. The other was made of

   wire but provided nourishment from an attached baby bottle.

 

I turned back to Elizabeth. “Look ahead in time. How does what you learned then affect you now? And how can this learning, how can this remembering, help you in your current life to feel happier, more peaceful, more loving?” “I must learn to let go of anger, to not hold it in, to recognize it, recognize its roots and let it go. I must feel free to love, to not hold back, and yet I still search. I haven’t found someone to love completely, unconditionally. There always seems to be a problem.”

Tôi quay lại với Elizabeth. – Nhìn về phía trước ở kiếp đó. Cô có biết cái gì đã ảnh hưởng đến cô trong kiếp này? Làm cách nào để học hỏi, để ghi nhớ, để giúp

cô trong kiếp sống hiện tại được hạnh phúc hơn, thanh thản hơn, tràn đầy tình yêu hơn? – Tôi đã học được cách xóa bỏ hận thù, không nuôi dưỡng nó, nhận dạng ra nguyên nhân của nó và từ bỏ nó. Tôi phải tự do yêu thương, không kéo lùi lại, nhưng tôi vẫn tìm kiếm. Tôi chưa thật sự tìm thấy người nào để yêu trọn vẹn, yêu không điều kiện. Dường như luôn sẵn có rắc rối.

 

She fell silent for half a minute. Suddenly she was speaking with a voice much deeper and slower than usual. The room felt very cold. “God is one,” she began. She struggled for words. “It is all one vibration, one energy. The only difference is the rate of vibration. So, God and people and rocks have the same relationship as steam and water and ice. Everything, all that is, is made up of the one. Love breaks down the barriers and creates unity. That which creates barriers and creates separateness and differences is ignorance. You must teach them these things.” That was the end of the message. Elizabeth was resting. I thought of Catherine’s messages, which seemed so similar to Elizabeth’s. Even the room felt cold when Catherine would relay these messages, much as the room felt cold with Elizabeth. I pondered her words. Healing is the act of bringing together, removing the barriers. Separation is what causes harm. Why is it so difficult for people to grasp this concept? Although I have conducted more than a thousand individual past-life regressions with my patients and many more in groups, I have had only a half dozen of these experiences myself.

Cô rơi vào yên lặng khoảng nửa phút. Bỗng nhiên cô nói với một giọng sâu sắc hơn, chậm rãi hơn bình thường. Gian phòng có vẻ rất lạnh. – Thượng đế là một. Cô bắt đầu, đấu tranh với các từ ngữ. – Tất cả chỉ là một sự dao động, một năng lực. Sự khác biệt duy nhất là tỷ lệ dao động. Vì vậy, thượng đế, con người, đá sỏi đều có mối quan hệ giống nhau như: hơi, nước, đá lạnh. Mọi thứ, tất cả là một, một vật thể duy nhất. Tình yêu phá bỏ những rào chắn và sáng tạo tính đồng nhất. Cái gì sáng tạo ra rào chắn, sáng tạo ra chia cách hay khác biệt đều là ngu xuẩn. Ông phải dạy họ điều này. Đó là lời nhắn nhủ cuối cùng. Elizabeth đang nghỉ ngơi. Tôi suy nghĩ đến những lời nói của cô. Chữa trị là hành động cùng nhau phá bỏ rào chắn. Chia cách thường gây ra đau khổ. Tại sao con người lại gặp khó khăn để thấu triệt được điều này? Mặc dù tôi đã hướng dẫn cho hàng ngàn bệnh nhân riêng lẻ và rất nhiều nhóm để du hành trở về quá khứ, nhưng bản thân tôi chỉ trải nghiệm qua vài chuyến mà thôi.

 

*  *  *

I have had some remembrances in vivid dreams and during a Shiatsu, or acupressure, treatment. Some of these are described in my earlier books. When my wife, Carole, finished a course in hypnotherapy to add to her skills as a social worker, she conducted a few past-life regression sessions with me as the patient. I wanted to experience this with someone whom I trusted and who was well trained.

 

*  *  *

 

I had been practicing meditation for years, and I went under deeply and quickly. When the memories started to flood into my mind, they were primarily visual and quite vivid, like my dream images. I could see myself as a young man from a wealthy Jewish family in Alexandria, around the time of Christ. Our community, I somehow knew, helped to finance the huge golden doors of the Great Temple in Jerusalem. My studies included Greek and the philosophy of the ancient Greeks, especially the followers of Plato and Aristotle.

Tôi đã tập thiền nhiều năm. Tôi có thể nhanh chóng đi sâu vào định. Khi ký ức bắt đầu tràn ngập vào tâm trí tôi, chúng là những thị giác chính yếu và rất sống động, như trí tưởng tượng trong mơ. Tôi có thể nhìn thấy chính mình là một thanh niên trẻ trong một gia đình Do Thái giàu có tại Alexandria, khoảng vào thời Chúa Jesus. Cộng đồng chúng tôi đã quyên góp tài chính giúp đỡ ngôi đền lớn trong thành Jerusalem. Tôi học về Hy Lạp và triết lý Hy Lạp cổ, đặc biệt về những đệ tử của Plato và Aristole.

 

I remembered one fragment of my life as that young man, when I attempted to augment my classical education by traveling among the clandestine desert communities in the southern deserts and caves of Palestine and the north of Egypt. Each community was a type of learning center, usually of mystical and esoteric knowledge. Some of these probably were Essene villages. I traveled very simply, carrying only a little food and some clothes. Just about everything I needed was provided for me along the way. My family had money, and we were known to these peoples. The spiritual knowledge I was acquiring was exciting and accelerated, and I enjoyed the journey.

Tôi nhớ một mảnh vụn trong kiếp sống đó. Tôi cố thử nghiệm làm tăng thêm sự học vấn kinh điển của mình bằng cách du hóa đến những cộng đồng hoang vu bí ẩn trong các sa mạc thuộc miền Nam, các hang động Plastine, và miền Bắc Ai Cập. Mỗi cộng đồng là một trung tâm kiến thức, thông thường về điều huyền bí và bí truyền. Một vài nơi có lẽ là các ngôi làng Essene. Tôi dạo chơi chỉ với một ít thức ăn, và ít quần áo, chỉ những thứ thật cần thiết cho cuộc hành trình. Kiến thức về tâm linh mà tôi có được rất thú vị, cho nên tôi rất hăm hở cho hành trình này.

 

For several weeks along the way from community to community, I was joined by a man about my age. He was taller than I and had intense brown eyes. We both wore robes and had cloths on our heads. He emanated peace, and as we studied together with the wise men of the villages, he soaked up the teachings

much more quickly than I. Afterward, he would teach me as we camped together by desert fires.

Nhiều tuần trôi qua, từ cộng đồng này đến cộng đồng khác, tôi gặp một thanh niên cũng trạc tuổi tôi. Chúng tôi cùng kết bạn đồng hành. Anh ta cao hơn tôi, đôi mắt nâu sáng ngời. Chúng tôi đều mặc áo choàng thụng, và quấn khăn trên đầu. Anh ta có vẻ rất thanh thản, khi chúng tôi bắt đầu cùng nghiên cứu với những nhà thông thái trong làng, anh ta thấu hiểu những lời giảng nhanh hơn tôi nhiều. Sau đó anh ta dạy lại tôi lúc chúng tôi cùng nhau cắm trại bên ngọn lửa trong sa mạc.

 

After a few weeks, we separated. I went to study at a small synagogue near the Great Pyramid, and he went to the west. Many of my patients, including Elizabeth and Pedro, have remembered lives in the area of ancient Palestine. Many have remembered Egypt. For me, as for them, the images seemed extremely vivid and quite real.

Vài tuần sau, chúng tôi chia tay. Tôi đến một giáo đường Do Thái nhỏ ở gần kim tự tháp để nghiên cứu, còn anh ta đi lên phía Bắc. Nhiều bệnh nhân của tôi như là Elizabeth và Pedro đã từng có những kiếp sống trong vùng cổ đại tại Palestine. Nhiều người khác thì ở Ai Cập. Với tôi, và họ, những cảnh tượng đó rất sống động, và rất thật.

 

Sources:

Tài Liệu tham khảo:

  1. https://tienvnguyen.net/images/file/YRPlCFHe1ggQANQv/chuyentinhquanhieukiepluanhoi.pdf
  2. https://tienvnguyen.net/images/file/3LljBlHe1ggQAFM5/onlyloveisreal.pdf
  3. http://thuvienhoasen.org/images/file/KD6h3bSo0QgQAKUC/chuyen-tinh-qua-nhieu-kiep-luan-hoi.pdf
  4. Photo 2: https://www.azquotes.com/quote/1303940
  5. Photo 3: https://www.alamy.com/stock-photo-the-sale-of-female-slaves-in-babylon-in-the-18th-century-bc-
  6. Photo 4: https://www.verywellmind.com/harry-harlow-and-the-nature-of-love-2795255