Chapter 10 – Tiền Kiếp Và Luân Hồi Có Thật Không? – Many Lives, Many Masters – Song ngữ

English: Dr. Brian L. Weiss.

Việt ngữ: Thích Tâm Quang.

Compile: Lotus group.

 

Chapter 10 – Tiền Kiếp Và Luân Hồi Có Thật Không? – Many Lives, Many Masters

The week passed quickly. I had listened over and over again to the tape of last week’s session. How was I approaching the state of renewal? I did not feel particularly enlightened. And now spirits would be sent back to help me. But what was I supposed to do? When would I find out? Would I be up to the task? I knew I must wait and be patient. I remembered the words of the poet Master.

Tuần này trôi qua mau. Tôi nghe đi nghe lại băng thâu của buổi thôi miên tuần trước. Làm sao tôi có thể tiếp cận được với trạng thái tái sinh? Tôi không cảm thấy cớ gì sáng tỏ. Và bây giờ những thần linh sẽ được phái đến giúp tôi. Nhưng tôi phải làm gì nhỉ? Khi nào tôi tìm ra được? Tôi có khả năng làm nhiệm vụ đó không? Tôi biết tôi phải chờ đợi và phải kiên nhẫn. Tôi nhớ lại lời của Bậc Thầy thi nhân.

 

Patience and timing . . . everything come when it must come. . .. Everything will be clear to you in time. But you must have a chance to digest the knowledge that we have given to you already.” So, I would wait.

Kiên nhẫn và chờ đợi… mọi việc sẽ đến khi nó phải đến… Mọi việc sẽ sáng tỏ cho ngươi đúng lúc. Nhưng ngươi phải có cơ hội hấp thụ kiến thức mà chúng ta đã cho ngươi”. Vậy tôi phải chờ.

 

At the beginning of this session Catherine related a fragment of a dream she had had several nights ago. In the dream she was living in her parents’ house, and a fire had broken out during the night. She was in control, helping to evacuate the house, but her father was dawdling and seemingly indifferent to the urgency of the situation. She rushed him outside. Then he remembered something he had left in the house, and he sent Catherine back into the raging fire to retrieve the object. She could not remember what it was. I decided not to interpret the dream yet, but to wait and see if the opportunity would arise while she was hypnotized.

Vào lúc bắt đầu buổi thôi miên,Catherine kể lại một đoạn trong giấc mộng mà cô mơ thấy trong mấy đêm vừa qua. Trong giấc mộng cô đang sống ở nhà cha mẹ, và nhà bị cháy ban đêm. Cô bình tĩnh và giúp rút ra khỏi nhà, nhưng cha cô lại lề mề và dường như thờ ơ trước tình thế cấp bách. Cô liền đẩy ông ra ngoài. Rồi ông nhớ đến cái gì đó ông đã để lại trong nhà, và ông bảo Catherine trở vào nhà giữa lúc nhà đang cháy lớn để tìm kiếm vật đó. Cô không nhớ vật đó là cái gì. Tôi quyết định chưa giải thích giấc mông vội, và đợi xem liệu thời cơ thuận tiện có nảy sinh khi cô đang được thôi miên không.

 

She quickly entered a deep hypnotic trance. “I see a woman with a hood over her head, not covering her face, just on her hair. “Then she was silent. “Can you see that now? The hood?” “I lost it. … I see some type of black material, brocade material with a gold design on it, … I see a building with some type of structural points on it … white.” “Do you recognize the building?” “No.” “Is it a large building?” “No. There’s a mountain in the background with some snow on the top of it. But the grass is green in the valley . . . where we’re at.”

Cô đi nhanh vào hôn mê sâu. “Tôi thấy một người đàn bà với một cái mũ trùm đầu, không phủ che mặt mà chỉ trùm tóc thôi.” Rồi cô im lặng. “Có thấy cái đó bây giờ không? Cái mũ trùm đầu?””Tôi không nhìn thấy nữa … Tôi nhìn thấy một miếng vải đen, vải thêu kim tuyến có hoa tiết mầu vàng trên đó … Tôi nhìn thấy một tòa nhà có nhiều nét cấu trúc trên nó … trắng.””Cô có nhận ra tòa nhà đó không?””Không”. “Tòa nhà đó có lớn không?””Không. Đằng sau tòa nhà là núi có tuyết trên đỉnh núi. Nhưng cỏ rất xanh trong thung lũng … nơi chúng tôi ở đó.”

 

“Are you able to go into the building?” “Yes. It’s made of some type of marble… very cold to the touch.” “Is it some sort of temple or religious building?” “I don’t know. I thought it might be a prison.” “Prison?” I repeated. “Are there people in the building? Around it?” “Yes, some soldiers. They have black uniforms, black with gold shoulder pads . . . gold tassels hanging off. Black helmets with some type of gold . . . something pointed and gold on the top … of the helmet. And a red sash, a red sash around the waist.”

”Cô có thể vào tòa nhà đó được không?””Được. Nhà làm bằng loại cẩm thạch… rất lạnh khi chạm vào.””Có phải nó là một loại chùa hay nhà tôn giáo không?””Tôi không biết. Tôi nghĩ rằng có thể là một nhà tù.” “Nhà tù”. Tôi nhắc lại, “Có người trong tòa nhà ấy không? Chung quanh nó?” “Có một số lính. Họ mặc đồng phục mầu đen, mầu đen với cầu vai vàng… tua vàng. Mũ bảo vệ đen có kiểu mầu vàng nào đó… thứ gì nhọn và vàng ở đỉnh … mũ. Và một dây lưng đỏ, một dây lưng đỏ quấn quanh thắt lưng.”

 

“Are there any soldiers around you?”

“Maybe two or three.” “Are you there?” “I’m somewhere, but I’m not in the building. But I’m nearby.” “Look around. See if you can find yourself…. The mountains are there, and the grass . . . and the white building. Are there other

buildings, too?” “If there are other buildings, they’re not situated near this one. I see one . . . isolated, with some type of wall built behind it … a wall.” “Do you think it’s a fort or a prison or something like that?” “It might be, but … it’s very isolated.” “Why is that important to you?” [Long pause} “Do you know the name of the town or country where you are? Where the soldiers are?”

“Có người lính nào ở quanh cô không?””Có thể là hai hay ba người.””Cô còn ở đấy không?””Tôi ở đây, nhưng không ở trong nhà. Nhưng tôi ở gần tòa nhà.””Hãy nhìn chung quanh. Xem cô có thể tìm ra chính cô không … Núi ở đấy, và cỏ… và tòa nhà trắng. Có nhà khác không?” “Nếu có những tòa nhà khác thì chúng cũng không tọa lạc gần tòa nhà này. Tôi nhìn thấy một tòa nhà … lẻ loi với kiểu tường được xây đằng sau nó… một bức tường.” “Cô có nghĩ rằng đó là một pháo đài hay một nhà tù hay đại loại như thế?” “Có thể, nhưng… nó rất hẻo lánh.””Tại sao cái đó lại quan trọng với cô?” (Ngưng hồi lâu) “Cô có biết tên thành phố hay xứ sở mà cô hiện ở đấy không ” Những người lính ở đâu?”

 

   Ukraine is in eastern Europe. It’s bordered by the Black Sea and

   Sea of Azov, Russia is at east & north, Belarus is at north, Poland, Slovakia,

   and Hungary to the west, and Romania and Moldova to the south.

 

“I keep seeing ‘Ukraine.’

” “Ukraine?” I repeated, fascinated by the diversity of her lifetimes. “Do you see a year? Does that come to you? Or a period of time?” “Seven teen-seventeen,” she answered hesitatingly, then corrected herself. “Seventeen fifty-eight . . . seventeen fifty- eight. There are many soldiers. I don’t know what their purpose is. With long swords that curve.” “What else do you see or hear?” I inquired. “I see a fountain, a fountain where they water the horses.” “Do the soldiers ride horses?” “Yes.” “Are the soldiers known by any other name? Do they call themselves anything special?” She listened.

” Tôi thấy là ‘Ukraine.””Tôi nhắc lại “Ukraine?”, say mê bởi tính chất đa dạng trong những kiếp sống của cô. “Cô có thấy năm tháng không? Cô có nghĩ đến điều đó không? hay ở giai đoạn nào?””Mười bẩy – mười bẩy “, cô trả lời ngập ngừng, rồi sửa lại. “Một ngàn bẩy trăm năm mươi tám … một ngàn bẩy trăm năm mươi tám. Có rất nhiều lính. Tôi không biết mục đích của họ ở đây. Với những thanh kiếm cong dài.”Tôi hỏi, “Cô còn nhìn và nghe thấy gì nữa?””Tôi thấy vòi nước, vòi nước, nơi họ tắm cho ngựa””Những người lính có cưỡi ngựa không?””Có chứ””Những người lính có tên nào khác không? Họ gọi nhau có gì đặc biệt không?” Cô lắng nghe.

 

“I don’t hear that.” “Are you among them?” “No.” Her answers were again a child’s, short and often monosyllabic. I had to be a very active interviewer. “But you’re seeing them nearby?” “Yes.” “Are you in the town?” “Yes.” “Do you live there?” “I believe so.”, “Good. See if you can find yourself and where you live.” “I see some very ragged clothes. I see just a child, a boy. His clothes are ragged. He’s cold….” “Does he have a home in the town?” There was a long pause. “I don’t see that,” she continues. She seemed to be having some difficulty connecting with this lifetime. She was somewhat vague in her answers, somehow unsure. “Okay. Do you know the boy’s name?” “No.” “What happens to the boy? Go with him. See what happens.”

“Tôi không nghe thấy điều đó””Cô có ở trong số họ không?””Không”. Câu trả lời của cô nay lại như đứa bé, ngắn và thường đơn âm. Tôi phải là một người phỏng vấn tích cực. “Nhưng cô thấy họ ở gần mà?””Phải””Cô có ởtrong thành phố không?””Có””Cô sống ở đấy phải không?” “Tôi tin là vậy”.”Tốt. Xem xem cô có thể thấy mình và nơi cô sống không?””Tôi nhìn thấy một ít quần áo rách tả tơi. Tôi chỉ nhìn thấy có một đứa bé, một đứa con trai. Quần áo của nó rách tả tơi. Nó bị lạnh…””Nó có nhà ở trong thành phố đó không?” Ngưng lâu. Cô tiếp tục, “Tôi không biết điều đó”. Dường như cô gặp khó khăn trong việc kiếp nối với kiếp sống này. Câu trả lời của cô có vẻ như mơ hồ và không chắc chắn. “Được rồi. Cô biết tên cậu bé ấy không?””Không””Cái gì xẩy ra cho cậu bé đó? Đến với nó đi. Xem cái gì đã xẩy ra.”

 

“Someone he knows is a prisoner.”

“A friend? A relative?” “I believe it’s his father.” Her answers were brief. “Are you the boy?” “I’m not sure.” “Do you know how he feels about his father being in prison?” “Yes . . . he’s very afraid, afraid they might kill him.” “What has his father done?” “He has stolen something from the soldiers, some papers or something.” “The boy doesn’t understand completely?” “No. He might never see his father again.” “Can he get to see his father at all?” “No.” “Do they know for how long his father will be in the prison? Or if he will live?” “No!” she answered. Her voice quavered. She was very upset, very sad. She was not providing much detail, yet she was visibly agitated by the events she was witnessing and experiencing. “You can feel what the boy is feeling,” I went on, “that kind of fear and anxiety. Do you feel it?”

“Nó biết một người nào đó là tù nhân.”

“Bạn bè? Một thân nhân?””Tôi tin là cha nó” Cô vắn tắt. “Có phải cô là đứa con trai ấy không?””Tôi không chắc lắm”. “Cô có biết nó nghĩ thế nào về người cha bị tù ấy?””Vâng… nó rất sợ hãi, sợ người ta có thể giết cha nó””Cha nó đã làm gì?””Cha nó đã ăn cắp cái gì đó của những người lính, giấy tờ hay thứ gì đó.””Đứa trẻ không hiểu hết phải không?””Không, Có thể nó sẽ không bao giờ gặp thấy cha nó nữa.””Nó có thể đi gặp cha nó được không?””Không.””Họ có biết cha nó bị tù bao lâu không? hay liệu có còn được sống không?”Không!” Cô trả lời, giọng cô run. Cô rất đau khổ, rất buồn. Cô không cung cấp được nhiều chi tiết, tuy nhiên cô bị bối rối trông thấy bởi những biến cố cô chứng kiến và trải nghiệm.”Tôi tiếp tục, Cô có thể cảm thấy đứa bé đó nghĩ gì, đó là một loại sợ hãi và lo âu. Cô có cảm nghĩ ấy không?”

 

“Yes.” Again, she was silent.

“What happens? Go ahead in time now. I know it’s hard. Go ahead intime. Something happens.” “His father is executed.” “How does he feel now?” “It was for something he never did. But they execute people for no reason at all.” “The boy must be very upset about this.” “I don’t believe he understands fully . . . what has happened.” “Does he have other people to turn to?” “Yes, but his life will be very hard.” “What becomes of the boy?” “I don’t know. He will probably die. . ..” She sounded so sad. She was again silent, then seemed to be looking around. “What are you seeing?” “I see a hand … a hand closing around something . . . white. I don’t know what it is. . ..” She fell silent again, and minutes passed.

“Có”. Cô lại im lặng.”

Cái gì xẩy ra? Hãy tiến xa hơn bây giờ. Tôi biết là khó khăn. Hãy tiến xa hơn. Có cái gì đó xẩy ra.””Cha nó bị hành quyết””Bây giờ nó cảm nghĩ thế nào?””Đó là một cái gì đó mà nó chưa cảm thấy bao giờ. Nhưng họ đã hành quyết mà không cần một lý do nào cả.””Thằng bé hẳn là hết sức buồn rầu về việc này.””Tôi không tin là nó hiểu biết đầy đủ việc gì đã xẩy ra.””Nó có người nào khác để nương tựa không?””Có, nhưng đời sống của nó sẽ rất khó khăn.” “Thằng bé sẽra sao?” “Tôi không biết. Nó có thể sẽ chết … Nghe cô có vẻ buồn. Cô lại im lặng, rồi dường như cô nhìn chung quanh.”Cô thấy gì?””Tôi thấy một bàn tay… một bàn tay gần chạm một vật gì … trắng. Tôi không biết nó là gì…” Cô lại rơi vào im lặng và ít phút qua đi.

 

“What else do you see?”

I asked. “Nothing . . . darkness.” She had either died or somehow

disconnected from the sad boy who lived in the Ukraine more than two hundred years ago. “Have you left the boy?” “Yes,” she whispered. She was resting. “What did you learn from that lifetime? Why -was it important?” “People cannot be judged hastily. You have to be fair with someone. Many lives were ruined by being hasty in our judgments.” “The boy’s life was short and hard because of that judgment . . .against his father.” “Yes.” She was silent again. “Are you seeing something else now? Do you hear anything?” “No.” Again, there was the brief answer and then silence. For some reason, this brief lifetime had been particularly grueling. I gave her instructions to rest.

Tôi hỏi, “Cô nhìn thấy gì khác?”

“Không thấy gì … tối đen” Hoặc là cô chết hay một cách nào đó cô đã không còn liên hệ với đứa con trai buồn rầu sống ở Ukraine hơn hai trăm năm qua.”Cô đã rời bỏ đứa bé trai?””Phải” Cô thì thào. Cô đang nghỉ ngơi. “Cô học được gì trong kiếp sống đó? Tại sao nó quan trọng?””Không thể hấp tấp phán xét người. Bạn phải công bằng với bất cứ ai. Nhiều sinh mạng đã tàn lụi bởi những phán xét khinh suất của chúng ta”.”Cuộc sống của đứa bé trai sẽ thiếu thốn và khó khăn vì việc xét xử…. cha nó.”Vâng”. Cô lại im lặng. “Cô có nhìn thấy gì khác không? Cô nghe thấy gì không?””Không”. Cô trả lời ngắn gọn rồi lại im lặng. Vì một lý do nào đó, kiếp sống ngắn ngủi này thật là mệt mỏi. Tôi chỉ thị cho cô nghỉ ngơi.

 

“Rest. Feel peacefulness.

Your body is healing itself; your soul is resting. . .. Are you feeling better? Rested? It was difficult for the little boy. Very hard. But now you’re resting again. Your mind can take you to other places, other times . . . other memories. Are you resting?” “Yes.” I decided to pursue the dream fragment about the burning house, her father’s unconcerned dawdling, and his sending her back into the conflagration in order to retrieve something of his. “I have a question now about the dream you had . . . with your father. You can remember it now; it’s safe. You’re in a deep trance. Do you remember?” “Yes.” “You went back into the house to get something. Do you remember that?” “Yes … it was a metal box.”

“Hãy nghỉ ngơi. Hãy cảm thấy an bình.

Thân thể cô sẽ tự hồi phục; linh hồn cô đang nghỉ ngơi… Cô có cảm thấy khá hơn không? Ổn rồi phải không? Thật khó khăn cho đứa bé trai. Rất khó khăn. Nhưng bây giờ cô hãy nghỉ ngơi nữa đi. Tâm trí cô có thể mang cô đến không gian khác, thời gian khác … ký ức khác. Cô đang nghỉ ngơi phải không?””Đúng”. Tôi quyết định truy tìm đoạn trong giấc mộng của cô về cái nhà cháy, cha cô hờ hững lề mề và bắt cô vào nhà để tìm lại vật gì của ông. “Bây giờ tôi có câu hỏi về giấc mộng của cô … với cha cô. Bây giờ cô có thể nhớ lại điều đó, rất an toàn. Cô đang ở trong hôn mê sâu. Cô có nhớ không?” “Có”

“Cô trở vào nhà để kiếm một vật gì đó. Cô có nhớ không?””Có… Đó là một cái hộp bằng kim loại.”

 

“What was in it that he wanted so badly to send you back into a burning house?” “His stamps and his coins . . . that he saves,” she answered. Her detailed recollection of the dream content under hypnosis contrasted dramatically with her sketchy recall while awake. Hypnosis was a powerful tool, not only providing access to the most remote, hidden areas of the mind, but also allowing a much more detailed memory. “Were his stamps and coins very important to him?”

“Có cái gì trong đó mà cha cô hết sức muốn bắt cô đi vào nhà đang cháy?”Những con tem và những đồng tiền mà ông ta cất giữ”. cô trả lời. Việc nhớ lại nội dung chi tiết về giấc mộng trong lúc thôi miên trái ngược hẳn với sự nhớ lại sơ sài trong lúc thức. Thôi miên là một công cụ mạnh mẽ không những thâm nhập được vào lĩnh vực sâu kín xa xôi nhất của tâm trí, mà cũng còn cung cấp một ký ức chi tiết hơn nhiều. “Những con tem và những đồng tiền quan trọng lắm đối với ông sao?”

 

“Yes.”

“But to risk your life to go back into a burning house just for stamps and coins-” She cut me off. “He didn’t think he was risking it.” “He thought it was safe?” “Yes.” “Then, why didn’t he go back instead of you?” “Because he thought I could go faster.” “I see. Was there a risk to you, though?” “Yes, but he didn’t realize that.” “Was there more meaning to that dream for you? About yourrelationship with your father?” “I don’t know.” “He didn’t seem to be in much of a hurry to get out of the burning house.” “No.” “Why was he so leisurely? You were fast; you saw the danger.” “Because he tries to hide from things.” I seized this moment to interpret part of the dream.

“Vâng”

“Nhưng liều mạng để đi vào một nhà cháy vì những con tem và đồng tiền”- Cô cắt ngang lời tôi. “Cha tôi không nghĩ là ông đang liều lĩnh.””Ông nghĩ là an toàn à?” “Phải””Thế thì tại sao ông không vào mà lại là cô?””Vì ông nghĩ rằng tôi có thể đi nhanh hơn.””Tôi hiểu. Có phải là một sự liều lĩnh cho cô?” “Phải, nhưng ông không nhận ra điều đó””Giấc mơ có nhiều ý nghĩa hơn đối với cô không? Về mối quan hệ với cha cô?””Tôi không biết”” Ông dường như không mấy vội vã để ra khỏi nhà cháy.””Không””Tại sao ông lại ung dung như vậy? Cô rất nhanh, cô trông thấy sự nguy hiểm.””Vì ông cố gắng che giấu các sự việc”. Tôi chớp lấy dịp này để giải thích một phần của giấc mộng.

 

“Yes, it’s an old pattern of his, and you do things for him, like fetching the box. I hope he can learn from you. I have a feeling that the fire represents time running out, that you realize the danger and that he doesn’t. While he dawdles and sends you back for material objects, you know much more . . . and have much to teach him, but he doesn’t seem to want to learn.” “No,” she agreed. “He doesn’t.” “That’s how I see the dream. But you can’t force him. Only he can realize this.” “Yes,” she agreed again, and her voice became deep and husky, “it is unimportant that our bodies get burned in fires if we don’t need them. …” A Master Spirit had shed an entirely different perspective on the dream. I was surprised at this sudden entrance, and I could only parrot back the thought, “We don’t need our bodies?”

“Phải, đó là kiểu cách cũ của ông ấy , và cô làm nhiều việc cho ông ấy giống như đem về cái hộp. Tôi hy vọng rằng ông ấy có thể học hỏi nơi cô. Tôi có cảm nghĩ rằng đám cháy tượng trưng cho thời giờ đã hết, và cô nhận thức được sự nguy hiểm, còn ông ấy thì không. Trong khi ông ấy nhởn nhơ và bắt cô trở vào tìm các thứ vật chất, cô biết nhiều hơn … và có nhiều cái để dạy ông ấy, nhưng dường như ông ấy không muốn học.””Đúng” cô đồng ý. “Ông không muốn học””Đó là cách tôi hiểu giấc mộng đó. Nhưng cô cũng không thể bắt buộc ông. Chỉ có ông ấy có thể nhận thức được điều này.””Đúng”, cô lại đồng ý, và giọng cô trở nên sâu và khàn khàn, “không quan trọng gì khi xác thân của chúng ta bị cháy trong lửa nếu chúng ta không cần những xác thân ấy …” Một Thần Linh Bậc Thầy đã tỏa chiếu một tầm nhìn hoàn toàn khác biệt về giấc mộng. Tôi rất ngạc nhiên về sự vào đề đột ngột này và tôi chỉ có thể nhắc lại suy nghĩ này như con vẹt.”Chúng ta không cần xác thân của chúng ta?”

 

“No. We go through so many stages when we’re here. We shed a baby body, go into a child’s, from child to an adult, an adult into old age. Why shouldn’t we go one step beyond and shed the adult body and go on to a spiritual plane? That is what we do. We don’t just stop growing; we continue to grow. When we get to the spiritual plane, we keep growing there, too. We go through different stages of development. When we arrive, we’re burned out. We have to go through a renewal stage, a learning stage, and a stage of decision. We decide when we want to return, where, and for what reasons. Some choose not to come back. They choose to go on to another stage of development. And they stay in spirit form . . . some for longer than others before they return. It is all growth and learning . . .continuous growth. Our body is just a vehicle for us while we’re here. It is our soul and our spirit that last forever.”

“Không. Chúng ta đi qua rất nhiều giai đoạn khi chúng ta ở đây. Chúng ta bỏ rơi xác thân sơ sinh, đi vào thân đứa trẻ, từ đứa trẻ đi đến người trưởng thành, rồi từ người trưởng thành đi vào tuổi già. Tại sao chúng ta không nên vượt qua một bước, bỏ rơi xác thân trưởng thành và đi vào bình diện tinh thần? Đó là những gì chúng ta bỏ rơi. Chúng ta không chỉ ngừng phát triển; chúng ta tiếp tục phát triển. Khi chúng ta tới được bình diện tinh thần, chúng ta cũng phát triển tại đấy. Chúng ta đi qua nhiều giai đoạn khác nhau về phát triển. Khi chúng ta đã đốt sạch (hết nhiên liệu), chúng ta phải đi qua giai đoạn tái sinh, giai đoạn học hỏi và giai đoạn quyết định. Chúng ta quyết định khi nào trở lại, nơi nào, và vì lý do gì. Một số quyết định không trở lại. Họ quyết định tiếp tục một giai đoạn phát triển khác. Và họ ở lại trong dạng thức thần linh… một số ở lại lâu hơn người khác trước khi trở về. Tất cả đều là phát triển và học hỏi … tiếp tục phát triển. Xác thân của chúng ta chỉ là phương tiện cho chúng ta khi chúng ta ở đây. Đó là linh hồn và tinh thần của chúng ta trường cửu.”

 

I did not recognize the voice or style. A “new” Master was speaking, and speaking of important knowledge. I wanted to know more about these spiritual realms. “Is learning in the physical state faster? Are there reasons that people don’t all stay in the spiritual state?” “No. Learning in the spiritual state is much faster, far accelerated from that in the physical state. But we choose what we need to learn. If we need to come back to work through a relationship, we comeback. If we are finished with that, we go on. In spiritual form you can always contact those that are in physical state if you choose to. But only if there is importance there … if you have to tell them something that they must know,” “How do you make contact? How does the message come through?”

Tôi không nhận ra được giọng nói hay kiểu nói này. Một Bậc Thầy “mới” đang nói, và nói về một kiến thức quan trọng. Tôi muốn biết nhiều hơn về những địa hạt tính thần này. “Học ở trong trạng thái thể chất có nhanh hơn không? Có những lý do mà người ta hoàn toàn không ở trong trạng thái tinh thần phải không?” “Không. Học trong trạng thái tinh thần nhanh hơn nhiều, tăng nhanh hơn học ở trạng thái thể chất. Nhưng chúng ta chọn những gì chúng ta cần học. Nếu chúng ta cần phải trở về để thực hiện qua một mối quan hệ, chúng ta trở lại. Nếu chúng ta đã hoàn thành việc đó, chúng ta tiếp tục. Trong dạng thức tinh thần bạn thường có thể tiếp xúc với những người trong trạng thái thể chất nếu bạn chọn lựa. Nhưng chỉ khi có sự quan trọng… nếu bạn phải nói cho họ biết điều gì đó mà họ phải biết. “Làm sao để tiếp xúc? Làm sao để thông điệp có thể truyền đạt?”

 

To my surprise, Catherine answered. Her whisper was faster and firmer. “Sometimes you can appear before that person . . . and look the same way you did when you were here. Other times you just make a mental contact. Sometimes the messages are cryptic, but most often the person knows what it pertains to. They understand. It’s mind-to-mind contact.” I spoke to Catherine. “The knowledge that you have now, this information, this wisdom, which is very important . . . why is it not accessible to you when you are awake and in the physical state?” “I guess I wouldn’t understand it. I’m not capable of understanding it.” “Then, perhaps I can teach you to understand it, so that it doesn’t frighten you, and so that you learn.”

Trước sự ngạc nhiên của tôi, Catherine trả lời. Tếng thì thào của cô nhanh hơn và mạnh mẽ hơn. “Đôi khi bạn có thể hiện thân trước người ấy … và trông bạn vẫn vậy khi bạn ở đây. Có những lúc khác, bạn chỉ phải tiếp xúc bằng tinh thần. Đôi khi những thông điệp khó hiểu, nhưng thường thường người ấy hiểu nó liên quan đến cái gì. Họ hiểu. Đó là sự tiếp xúc tâm với tâm.”Tôi nói với Catherine.”Kiến thức mà cô có bây giờ, tin tức này, trí tuệ này, cái nào quan trọng… tại sao cô không có chúng khi cô tỉnh và trong trạng thái thể chất”.”Tôi chắc là tôi không thể hiểu điều đó. Tôi không đủ khả năng để hiểu.”” Vậy thì, có lẽ tôi sẽ dạy cô để cô hiểu điều đó, do đó nó không làm cô sợ hãi, và vì thế cô sẽ học hỏi.”

 

“Yes.”

“When you hear the voices of the Masters, they say things similar to what you are telling me now. You must share a great deal of information.” I was intrigued at the wisdom she possessed when she was in this state. “Yes,” she replied simply. “And this comes from your own mind?”

“But they have put it there.” So, she gave the credit to the Masters. “Yes,” I acknowledged. “How do I best communicate it back to you so that you grow and lose your fears?” “You have already done that,” she answered softly. She was right; her fears were nearly gone. Once the hypnotic regressions had begun, her clinical progress had been incredibly rapid.

“Vâng”

“Khi cô nghe tiếng nói của các Bậc Thầy, họ nói những điều giống như cô đang nói với tôi bây giờ. Cô phải chia sẻ rất nhiều tin tức”. Tôi quan tâm đến sự thông thái mà cô có khi cô ở trong trạng thái này. Cô chỉ trả lời, “Vâng””Và điều đó đến từ tâm trí riêng của cô phải không?””Nhưng họ đã đặt nó vào đấy” Cho nên cô tin các Bậc Thầy. Tôi thừa nhận “Phải”, “Làm sao tôi có thể truyền điều đó tốt nhất cho cô để cô phát triển và làm cô không còn sợ hãi?””Ông đã làm điều đó rồi”, cô trả lời dịu dàng. Cô đúng, những sự sợ hãi của cô hầu như không còn nữa. Một khi những buổi thôi miên lùi về quá khứ bắt đầu, tiến bộ về chữa trị nhanh không thể tưởng được.

 

   Super consciousness is a state of dynamic awareness. People have of

   this state during moments of inner stillness … Meditation is attuning the mind

   to super consciousness, and eventually entering that state.

 

What lessons do you need to learn now?

What is the most important thing you can learn during this lifetime so that you can continue to grow and prosper?” “Trust,” she answered quickly. She had known what her principal task was. “Trust?” I repeated, surprised by the quickness of her retort. “Yes. I must learn to have faith, but also to trust people. I don’t. I think everybody is trying to do evil to me. That makes me stay away from people and situations that I probably shouldn’t stay away from. It’s keeping me with other people that I should break away from.” Her insight was tremendous when she was in this superconscious state. She knew her weaknesses and her strengths. She knew the areas that needed attention and work, and she knew what to do to improve matters. The only problem was that these insights needed to reach her conscious mind and needed to be applied to her waking life. Superconscious insight was fascinating, but by itself it was not enough to transform her life. “Who are these people to break away from?”

I asked.

“Bài học nào cô cần phải học bây giờ?

 Cái gì quan trọng nhất cô có thể học được trong kiếp sống này để cô có thể tiếp tục phát triển và thành công?”Cô trả lời nhanh, “Lòng Tin”. Cô đã biết nhiệm vụ chính của cô là gì. Ngạc nhiên về sự trả lời nhanh chóng của cô, tôi nhắc lại, “Lòng tin””Đúng, tôi phải học để có niềm tin, đồng thời cần phải tin vào con người. Tôi không tin vào con người. Tôi nghĩ mọi người đang cố gắng làm điều xấu xa cho tôi. Điều đó làm tôi xa lánh mọi người và những hoàn cảnh mà có lẽ tôi không nên cách xa. Điều đó làm tôi giữ được quan hệ với những người khác mà tôi nên cắt đứt mối quan hệ.” Nhận thức thấu đáo của cô thật kỳ lạ khi cô ở trong trạng thái siêu thức. Cô biết điểm yếu và điểm mạnh của cô. Cô biết những lĩnh vực cần phải lưu ý và thi hành, và cô biết làm gì để cải thiện vấn đề. Vấn đề duy nhất là nhận thức thấu đáo này cần phải nhập vào tâm thức của cô và cần được áp dụng vào đời sống lúc cô đang thức. Nhận thức thấu đáo siêu thức tự nó rất quyến rũ, nhưng tự nó lại không đủ để biến đổi đời cô. Tôi hỏi, “Ai là những người cô nên cắt đứt quan hệ?”

 

She paused. “I am afraid of Becky.

I’m afraid of Stuart . . . that somehow harm will come to me … from them.” “Can you break away from that?” “Not completely, but from some of their ideas, yes. Stuart is trying to keep me in prison, and he is succeeding. He knows that I’m afraid. He knows I’m afraid to be away from him, and he uses that knowledge to keep me with him.” “And Becky?” “She’s constantly trying to break down my faith in the people that I have faith in. When I see good, she sees evil. And she tries to plant those seeds in my mind. I’m learning to trust . . . people I should trust, but she fills me with doubts about them. And that’s her problem. I can’t let her make me

think her way.”

Cô ngưng rồi nói,”Tôi sợ Becky,

Tôi sợ Stuart… bằng cách nào đó tai hại sẽ đến với tôi … từ họ. “”Cô có thể chấm dứt mối quan hệ với họ?””Không hoàn toàn, nhưng với một vài ý kiến của họ, phải. Stuart đang cố gắng giữ tôi trong tù, và anh ta đang thành công. Anh ta biết tôi sợ hãi. Anh biết tôi sợ cách xa anh, và anh sử dụng hiểu biết đó để giữ tôi với anh.””Còn Becky””Cô ấy luôn luôn cố gắng phá vỡ niềm tin của tôi với những người mà tôi tin cẩn. Khi tôi thấy là tốt thì cô ấy thấy là xấu. Và cô ấy cố gắng trồng những hạt giống này vào tâm trí tôi. Tôi đang học hỏi để tin vào … những người tôi nên tin, nhưng cô ấy lại nhồi đầy đầu óc tôi những ngờ vực về họ. Và đó là vấn đề của cô ấy. Tôi không thể để cô ấy bắt tôi suy nghĩ theo cách của cô ấy.”

 

In her Superconscious state, Catherine was able to pinpoint major character flaws in both Becky and Stuart. The hypnotized Catherine would make an excellent psychiatrist, empathic and unerringly intuitive. The awake Catherine did not possess these attributes. It was my task to bridge the gulf. Her dramatic clinical improvement meant that some of this was seeping through. I attempted more bridge-building. “Who can you trust?” I asked. “Think about it. Who are the people you can trust and learn from and get closer to. Who are they?” “I can trust you,” she whispered. I knew this, but I knew she needed to trust people in her everyday life even more. “Yes, you can. You are close to me, but you must get closer to other people in your life, too, people who can be with you more than I can. “I wanted her to be complete and independent, not dependent on me. “I can trust my sister. I don’t know the others. I can trust Stuart, but only to a certain extent. He does care about me, but he’s confused. In his confusion he unknowingly is doing me harm.”

Trong trạng thái siêu thức, Catherine đã có thể vạch ra thói xấu chính của cả Becky và Stuart. Catherine được thôi miên có thể làm chuyên gia tâm thần học tuyệt vời, trực giác rõ ràng và chính xác. Catherine tỉnh thức không có những thuộc tính này. Nhiệm vụ của tôi là bắc cầu qua vịnh. Bệnh tình thuyên giảm nhanh của cô có nghĩa là một số việc này đang thấm vào. Tôi muốn xây nhiều cầu hơn nũa. Tôi hỏi, “Cô tin ai? Hãy nghĩ về việc này. Ai là người cô có thể tin cẩn, học hỏi và để gần gũi hơn. Họ là ai?”Cô thì thào,”Tôi có thể tin ông”. Tôi biết việc này, nhưng tôi biết cô cần tin vào những người trong đời sống hàng ngày của cô nhiều hơn nữa.”Phải, cô có thể. Cô gần gũi tôi nhưng cô cũng phải gần gũi hơn với những người khác ở với cô trong cuộc sống nhiều hơn là tôi có thể.” Tôi muốn cô hoàn toàn độc lập, không ỷ lại vào tôi. “Tôi có thể tin chị tôi. Tôi không biết những người khác. Tôi có thể tin Stuart, nhưng chỉ ở một mức độ nào thôi. Anh ấy không quan tâm đến tôi nhưng anh ấy bối rối. Trong cái bối rối của anh ấy, anh ấy vô tình làm hại tôi.”

 

“Yes, it is true. Is there another man that you can trust?”

“I can trust Robert,” she answered. He was another physician in the hospital. They were good friends. “Yes. Maybe there are still more for you to meet … in the future.” “Yes,” she conceded. The idea of future knowledge was distractingly intriguing. She had been so accurate about the past. She, through the Masters, had known specific, secret facts. Could they also know facts from the future? If so, could we share this foreknowledge? A thousand questions burst into my mind. “When you find contact with your superconscious mind, like now, and have this wisdom, do you also develop abilities in the psychic realm? Is it possible for you to look into the future? We have done much in the past.”

“Đúng, đó là sự thật. Có người nào khác mà cô tin không?””Tôi có tin Robert”, cô trả lời. Ông ấy là một bác sĩ khác trong bệnh viện. Họ là những người bạn tốt. “Vâng, có lẽ có những người khác nữa mà cô sẽ gặp trong tương lai””Vâng,” cô thừa nhận. Ý kiến về hiểu biết tương lai hết sức đáng quan tâm. Cô đã rất chính xác về quá khứ. Qua các Bậc Thầy, cô biết những sự việc đặc biệt, bí mật. Có thể họ cũng biết những sự việc về tương lai? Nếu vậy chúng tôi có thể chia sẻ kiến thức biết trước này không? Cả ngàn câu hỏi tràn vào tâm trí tôi. “Khi cô tiếp xúc với tâm siêu thức của cô như bây giờ, và có trí tuệ này, cô có phát triển khả năng trong lĩnh vực tâm linh phải không? Cô có thể nhìn vào tương lai? Chúng ta đã làm nhiều về quá khứ rồi”.

 

“That is possible,” she conceded, “but I see nothing now.”

“It is possible? ” I echoed. “I believe so.” “Can you do this without being frightened? Can you go into the future and obtain information of a neutral sort that will not be frightening to you? Can you see the future?”

Her answer was swift, “I don’t see that. They will not allow it.” I knew she meant the Masters. “Are they around you now?” “Yes.” “Are they talking to you?” “No. They monitor everything.” So, being monitored, she was not permitted to peer into the future. Perhaps we had nothing to gain personally from such a glimpse. Perhaps the adventure would have made Catherine too anxious. Perhaps we were not yet prepared to cope with this information. I did not push it.

Cô thừa nhận, “Có thể được, nhưng tôi không thấy gì bây giờ.”Tôi lặp lại, “Có thể?””Tôi tin như vậy.””Cô có thể làm việc này mà không sợ hãi không? Cô có thể đi vào tương lai và lấy được tin tức của một người trung lập mà không làm cô sợ hãi không? Cô có thể biết tương lai không?”Cô trả lời rất nhanh. “Tôi không thấy điều đó. Họ không cho phép”. Tôi biết cô có ý nói các Bậc Thầy. “Họ có ở chung quanh cô bây giờ không?””Có””Họ đang nói chuyện với cô à?””Không. Họ giám sát mọi thứ” Vì bị giám sát, cô không được phép nhìn ngó vào tương lai. Có lẽ chúng ta không đạt được gì cho cá nhân từ một cái nhìn thoáng qua như vậy. Có lẽ cuộc phiêu lưu đã làm cho Catherine quá lo lắng. Có lẽ chúng tôi chưa sửa soạn để đương đầu với thông tin này. Tôi không thúc đẩy việc này.

 

“The spirit that was around you before, Gideon . . .”

“Yes.”

“What does he need? Why is he nearby? Do you know him?” “No, I don’t believe so.” “But he protects you from danger?”, “Yes,” “The Masters. . ..” “I don’t see them,” “Sometimes they have messages for me, messages that help you and help me. Are these messages available to you even when they’re not speaking? Do they put thoughts in your mind?” “Yes.” “Do they monitor how far you can go? What you can remember?” “Yes.” “So, there is a purpose in this explanation of lifetimes. . ..” “Yes.” “. . . For you and for me … to teach us. To bring us the disappearance of fear.”

“Vị thần linh ở gần cô trước đây, Gideon …”

“Phải”

“Ông ấy cần gì? Tại sao ông ấy ở gần? Cô có biết ông ta không?””Không, Tôi không tin như vậy””Nhưng ông ta bảo vệ cô khỏi nguy hiểm?””Phải””Các Bậc Thầy …””Tôi không nhìn thậy họ””Đôi khi họ có những thông điệp cho tôi, những thông điệp giúp ông và tôi. Những thông điệp ấy có sẵn có cho cô không kể cả khi họ không nói? Có phải họ đặt tư tưởng vào tâm trí cô không?”””Phải””Họ có giám sát được đi xa đến đâu không? Cô có thể nhớ được gì?””Phải””Vậy là có một mục đích trong sự giải thích các kiếp sống …””Phải””… Cho cô và tôi … để dạy chúng ta. Để làm cho sợ hãi biến mất khỏi chúng ta.”

 

“There are many ways of communication. They choose many … to show that they do exist.” Whether Catherine was hearing their voices, visualizing past images and vistas, experiencing psychic phenomena, or having thoughts and ideas placed in her mind, the purpose was the same-to show that they do exist and, even beyond that, to help us, to aid us on our path by providing insights and knowledge, to help us become godlike through wisdom. “Do you know why they have chosen you…” “No.” “. . . to be a channel?” This was a delicate question, since the awake Catherine could not even listen to the tapes. “No,” she softly whispered.

“Có nhiều cách truyền thông. Họ chọn nhiều cách … để chứng tỏ họ hiện hữu. Liệu Catherine có nghe giọng nói của họ, mường tượng những hình ảnh quá khứ và những viễn cảnh, trải nghiệm những hiện tượng tâm linh, hay có những tư tưởng và ý niệm đặt vào tâm trí cô, mục đích cũng giống nhau – để chứng tỏ họ hiện hữu và thậm chí hơn thế, giúp chúng ta, trợ giúp chúng ta trên con đường của chúng ta bằng cách cung cấp cái nhìn thấu đáo và kiến thức, giúp chúng ta thánh thiện qua sự thông thái”.”Cô có biết tại sao họ chọn cô không?””Không””… đã trở thành một kênh thông tin?”Đây là một câu hỏi tinh tế, vì Catherine lúc tỉnh không thể nghe những băng thâu. “Không”, cô thì thào dịu dàng.

 

“Does it frighten you?”

“Sometimes.” “And other times not?” “Yes.” “It can be reassuring,” I added. “We know now that we are eternal, so we lose our fear of death,” “Yes,” she agreed. She paused. “I must learn to trust.” She had returned to her lifetime’s major lesson. “When I’m told something, I must learn to trust what I am told . . . when the person is knowledgeable.” “Certainly, there are people not to trust,” I added. “Yes, but I’m confused. And the people I know I should trust; I fight against that feeling. And I don’t want to trust anybody. “She was silent as I again admired her insight.

“Việc này làm cô sợ hãi?”

“Đôi khi””Những lúc khác thì không sợ hãi?””Phải” Tôi thêm, “Có thể đoan chắc rằng bây giờ chúng ta biết chúng ta bất diệt, cho nên chúng ta mất sự sợ hãi về cái chết.””Vâng” cô đồng ý. Cô ngưng lại. ” Tôi phải học cách tin” Cô đã trở về với bài học chính của kiếp sống.”Khi tôi được bảo cái gì đó, tôi phải học cách tin vào điều được bảo … khi người ấy có kiến thức.”Tôi thêm, “Chắc chắn có những người không tin””Vâng, nhưng tôi bối rối. Và người mà tôi biết, tôi phải tin, tôi phấn đấu chống lại cảm nghĩ đó. Và tôi không muốn tin bất cứ người nào.” Cô im lặng trong khi tôi lại ngưỡng mộ sự hiểu biết thấu đáo của cô.

 

“Last time we talked about you as a child, in a garden with horses. Do you remember? Your sister’s wedding?”

“A little.”

“Was there more to gather from that time? Do you know?” “Yes.” “Would it be worthwhile to go back now and explore it?” “It won’t come back now. There are so many things in a lifetime . . . there is so much knowledge to attain . . . from each lifetime. Yes, we must explore, but it won’t come back now.” So, I turned again to her troubled relationship with her father. “Your relationship with your father is another area, one that has affected you deeply in this life.” “Yes,” she answered simply. “It is another area to explore yet, too. You’ve had much to learn from this relationship. Compare it to the little boy in the Ukraine who lost his father at an early age. And this loss did not happen to you this time. And yet, having your father here, even though certain hardships were less . . .” “Was more of a burden,” she concluded. “Thoughts …” she added, “thoughts. . ..”

“Lần trước, chúng ta có nói chuyện về cô khi là một em nhỏ, trong vườn với ngựa. Cô còn nhớ không? Đám cưới của chị cô?””Một chút thôi””Có còn gì để kết luận về thời gian đó không? Cô có biết không?””Có””Liệu cô đáng quay trở về và thám hiểm việc này không?””Không thể trở lại bây giờ được. Có nhiều sự việc trong một kiếp sống … có quá nhiều kiến thức để đạt được… từ mỗi kiếp sống. Phải, chúng ta phải khám phá nhưng không thể trở vềbây giờ.”Cho nên tôi lại quay về mối quan hệ rắc rối của cô với cha cô. “Quan hệ của cô với cha cô là một lĩnh vực khác, một lĩnh vực đã ảnh hưởng sâu xa đến cô trong kiếp sống này.”Cô chỉ trả lời “Phải””Còn có một lĩnh vực khác chưa thăm dò. Cô có nhiều điều để học hỏi trong mối quan hệnày. Hãy so sánh việc này với đứa bé trai ở Ukraine bị mất cha lúc còn thơ dại. Và sự mất mát này không xẩy ra cho cô lần này. Và tuy, có cha cô ở đây, mặc dù khó khăn gian khổ ít hơn…”

Cô kết luận, “Còn hơn là một gánh nặng”, cô nói thêm những tư tưởng,” tư tưởng”.

 

“What thoughts?”

I sensed she was in a new area.

“About the anesthesia. When they give you anesthesia, can you hear? You can still hear!” She had answered her own question. She was whispering rapidly now, becoming excited. “Your mind is very much aware of what’s going on. They were talking about my choking, about the possibility of me choking when they did the surgery on my throat.” I remembered Catherine’s vocal cord surgery, which was performed just a few months before her first appointment with me. She had been anxious prior to the surgery, but she was absolutely terrified upon awakening in the recovery room. It had taken the nursing staff hours to calm her. Now it appeared that what was said by the surgeons during the operation, during the time she was under deep anesthesia, had precipitated her terror. My mind flipped back to medical school and my surgery rotation. I remembered the casual conversations during operations, while the patients were anesthetized. I remembered the jokes, the cursing, the arguments, and the surgeons’ temper tantrums. What had the patients heard, at a subconscious level? How much registered to affect their thoughts and emotions, their fears and anxieties, after they awakened? Was the postoperative course, the patient’s very recovery from the surgery, influenced positively or negatively by the remarks made during the operation? Had anyone died because of negative expectations overheard during surgery? Had they, feeling hopeless, just given up? “Do you remember what they were saying?” I asked.

“Tư tưởng gì?” Tôi cảm thấy cô đang ở một lĩnh vực khác. “Về trạng thái và cảm giác. Khi người ta gây mê, ông có thể nghe thấy gì không? Ông vẫn còn nghe thấy!” Cô tự trả lời câu hỏi của cô, bây giờ cô thì thào nhanh, trở nên sôi nổi. ” Tâm của ông biết rõ về cái gì đang tiếp diễn. Họ đang nói về sự nghẹt thở của tôi, về khả năng nghẹt thở khi họ giải phẫu họng của tôi.” Tôi nhớ lại việc giải phẫu dây âm thanh được thực hiện chỉ ít tháng trước lần hẹn đầu tiên với tôi. Cô đã rất lo âu trước khi giải phẫu, nhưng cô hết sức kinh hoàng sau khi tỉnh lại tại phòng hồi sức. Nhân viên chăm sóc đã phải mất hàng giờ để trấn an cô. Bây giờ có vẻ là những gì mà các bác sĩ phẫu thuật nói trong lúc giải phẫu, khi cô được đánh thuốc mê, đã thúc đẩy nỗi kinh hoàng của cô. Tâm trí tôi vụt quay trở lại trường y khoa và phiên giải phẫu của tôi. Tôi nhớ lại những chuyện tình cờ trong lúc giải phẫu trong khi gây mê cho bệnh nhân. Tôi nhớ lại những chuyện đùa, lời chửi rủa, tranh luận và những cơn thịnh nộ cáu kỉnh của những nhà giải phẫu. Những bệnh nhân đã nghe thấy gì ở mức tiềm thức? Bao nhiêu cái đã bị lưu lại để ảnh hưởng đến tư tưởng và cảm xúc, sợ hãi và lo âu của họ, sau khi họ tỉnh lại? Tiến trình sau giải phẫu, sự hồi phục của bệnh nhân sau giải phẫu, đã có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực bởi những nhận xét trong cuộc giải phẫu? Có ai bị chết vì những khả năng tiêu cực nghe lỏm được trong lúc giải phẫu? Cảm thấy vô vọng, họ đành chịu thua? Tôi hỏi, “Cô có nhớ họ nói gì không?”

 

“That they had to put a tube down.

When they took the tube out, my throat might swell up. They didn’t think I could hear.” “But you did.” “Yes. That’s why I had all the problems.” After today’s session, Catherine no longer had any fear of swallowing or choking. It was as simple as that. “All-the anxiety . . .” she continued, “I thought I would choke.” “Do you feel free?” I asked. “Yes. You can reverse what they did.” “Can I?” “Yes. You are, ‘. . . They should be very careful of what they say. I remember it now. They put a tube in my throat. And then I couldn’t talk afterward to tell them anything.” “Now you’re free. . .. You did hear them.” “Yes, I heard them talk. . ..” She fell silent for a minute or two, then began to turn her head from side to side. She seemed to be listening to something.

“Họ nói rằng họ đưa cái ống vào.

Khi họ lấy cái ống ra, cuống họng tôi có thể xưng lên. Họ không nghĩ là tôi nghe được.””Nhưng cô nghe được.””Đúng. Đó là lý do tại sao tôi có tất cả những khó khăn”. Sau hai buổi thôi miên hôm này, Catherine không còn sợ nuốt hay nghẹn. Đơn giản là như vậy. ” Cô tiếp tục, “Tất cả những lo âu, tôi nghĩ là tôi có thể nghẹn.”Tôi hỏi. ” Cô có cảm thấy thoải mái không?””Có. Ông có thể đảo ngược lại cái họ đã làm.””Tôi có thể không?” Được. ông là … Họ phải rất cẩn thận về điều họ nói. Bây giờ tôi nhớ lại điều đó. Họ đưa cái ống vào cuống họng tôi. Và rồi tôi không thể nói được để bảo họ điều gì.””Bây giờ cô cứ tự nhiên … Cô đã nghe được họ nói”. “Phải, tôi nghe họ nói … ” Cô lại rơi vào im lặng độ một hay hai phút, và bắt đầu quay đầu từ phía này sang phía kia. Dường như cô đang nghe cái gì.

 

“You seem to be hearing messages.

Do you know where that message came from? I was hoping the Masters would appear.” “Someone told me” was her cryptic answer. “Somebody was speaking to you?” “But they’re gone.” I tried to bring them back. “See if you can bring back spirits with messages for us … to help us out.”

“Hình như cô đang nghe thông điệp.

Cô có biết những thông điệp ấy từ đâu đến? Tôi hy vọng các Bậc Thầy xuất hiện.”””Ai đó nói với tôi” đó là câu trả lời khó hiểu của cô. “Người nào đó nói chuyện với cô?””Nhưng họ đi rồi”. Tôi cố mang họ trở lại.”Xem nào liệu cô có thể mang những thần linh quay về với những thông điệp cho chúng ta … để giúp chúng ta ra không?”

 

“They come only when they want to, not when I choose,” she answered firmly. “You don’t have any control over it?” “No.” “Okay,” I conceded, “but the message about the anesthesia was very important for you. That was the source of your choking.” “It was important for you, not me,” she retorted. Her answer reverberated through my mind. She would be cured of the terror of choking, yet this revelation was nevertheless more important for me than for her. I was the one doing the healing. Her simple answer contained many levels of meaning. I felt that if I truly understood these levels, these resonating octaves of meanings, I would advance quantum leap into the understanding of human relationships. Perhaps the helping was more important than the cure. “For me to help you?” I asked. “Yes. You can undo what they did. You have been undoing what they did. . ..” She was resting. We had both learned a great lesson. 149 Many Lives, Many Masters Shortly after her third birthday my daughter, Amy, came runningover to me, hugging me around the legs. She looked up and said,”Daddy, I’ve loved you for forty thousand years.” I looked down ather little face, and I felt very, very happy.

” Họ đến chỉ khi họ muốn, không phải là lúc tôi chọn,” cô trả lời một cách quả quyết. “Cô không làm chủ được việc ấy ư?””Không””Được rồi”, tôi thừa nhận nhưng thông điệp về vụ thuốc mê rất quan trọng với cô. Đó là nguồn gốc cô bị nghẹn”.”Việc đó quan trọng cho ông chứ không phải cho tôi” Cô phản bác lại. Câu trả lời của cô vang lên qua tâm trí tôi. Cô sẽ được chữa trị về nỗi sợ bị nghẹn, tuy sự tiết lộ này quan trọng cho tôi hơn là cho cô. Tôi là người chữa bệnh. Câu trả lời đơn giản của cô chứa đựng ý nghĩa ở nhiều mức độ. Tôi cảm thấy nếu tôi hiểu thực sự những mức độ này, những quãng tám cộng hưởng của ý nghĩa, tôi sẽ tiến tới một cú nhẩy lượng tử vào sự hiểu biết những mối quan hệ của con người. Có lẽ sự giúp đỡ còn quan trọng hơn việc chữa lành bệnh. Tôi hỏi, “Cho tôi giúp cô?” “Phải. Ông có thể không làm những điều họ làm. Ông đang không làm những điều họ đã làm …”. Cô nghỉ ngơi. Cả hai chúng tôi đều học được một bài học lớn. Ít lâu sau ngày sinh nhật thứ ba của con gái tôi, Amy chạy đến tôi và ôm ghì cẳng chân tôi. Nó nhìn lên và nói, “Thưa cha, con yêu thương cha đến bốn ngàn năm”. Tôi nhìn xuống bộ mặt nhỏ nhắn của nó, tôi cảm thấy quá sung sướng.

 

Sources:

Tài liệu tham khảo:

  1. https://tienvnguyen.net/a2066/tien-kiep-va-luan-hoi-co-that-khong-many-lives-many-masters-
  2. https://tienvnguyen.net/images/file/Wful-wTe1ggQAFce/manylivesmanymasters.pdf
  3. https://tienvnguyen.net/images/file/sLziGUbf1ggQALdp/tienkiepvaluanhoicothatkhong.pdf
  4. Photo 2: https://www.bbc.com/news/world-europe-18018002
  5. Photo 3: https://www.pinterest.com/pin/80079699600948297/